Showing posts with label Văn chương ngữ nghĩa. Show all posts
Showing posts with label Văn chương ngữ nghĩa. Show all posts

SÓNG ĐỔI THAY

Bao năm rồi cứ xót xa
Nước thời vẩn đục làm ta nát lòng...

Ấy là chuyện Nhân quyền biến thái
Bịt miệng người yêu chuộng Tự do
Nhà lao ngục tối giày vò
Triệt tiêu Công lý, "nhập kho" Dân quyền
Để hợp thức những trò nghịch đạo
Đặng dễ bề che mắt nhân gian
Bèn cho thuộc cấp đăng đàn
Dựng bài thóa mạ tương tàn cá nhân
Nào chụp mũ tay sai phản động
Nào tuyên truyền chống phá quốc gia...
Làm sao hư cấu cho ra
Những gì có thể gọi là tội danh
Rồi thậm thụt phiên tòa bỏ túi
Án kêu rằng xử nặng răn đe
Để cho dân chúng e dè
Chỉ còn ngậm miệng mà nghe lời phàm:
Rằng là trí tuệ đỉnh cao
Rằng là dân chủ thua tao triệu lần
Rằng đây định hướng thiên đàng
Rằng đây hạnh phúc đứng hàng thứ hai
Rằng đường bác chọn không sai
Rằng đi cho đến ngày mai đại đồng...

Dân quen nếp nghe lời bạo ngược
Vì miếng cơm nào dám ho he
Thẳng tay độc đảng cứ đè
Một nền văn hóa biết nghe không nhìn
Đừng dại nghe những gì chúng nói
Mà hãy nhìn cho thấu tâm can:
Ở đâu còn thói hung tàn
Lương dân cơ cực lầm than từng ngày
Ở đâu cơ chế độc tài
Quốc gia chậm tiến miệt mài tối tăm
Ở đâu ác bá cường hào
Dân oan mất đất ra vào kiện thưa
Ở đâu bằng giả lên ngôi
Là nơi năng lực đến hồi vứt đi
Ở đâu tham nhũng như rươi
Dân thời gánh nợ tang thương phận người
Ở đâu như chốn "thiên đường"
Tự do Dân chủ tìm đường viễn du...

Vì chính sách ngu dân dễ trị
Đất nước chìm trong cảnh suy vi
Ngoại bang quấy phá cấp kỳ
Chủ quyền biển đảo từng ly xói mòn
Trước họa nước đang hồi nguy khốn
Công dân ơi nên tính làm sao
Trước lo đẩy mạnh cao trào
Đòi quyền nhân bản tối cao: LÀM NGƯỜI
NGƯỜI - phải biết tự do tư tưởng
Thoát khỏi vòng ngu muội tà yêu
Dẹp đi lề thói giáo điều
Tự cường khai trí sớm chiều canh tân
NGƯỜI - nên biết từ bi bác ái
Cho tha nhân vạn nẻo đường đời
Thương ai trong chốn lao tù
Vì lời nói thẳng mịt mù ngục trung
NGƯỜI - phải biết công bằng lẽ phải
Cùng anh em sát cánh kề vai
Thắp lên ngọn nến công khai
Quyết đòi Công lý đúng sai tỏ tường
NGƯỜI - cần có tự do ngôn luận
Không nép mình bóng tối tà gian
Nói lời chính trực trung can
Vạch trần thủ đoạn mưu thâm hại người
Vì lẽ đó không nên lùi bước
Trước cường quyền tà đạo gian manh
Đặt ra lề thói nhập nhằng
Triệt đường ngôn luận cào bằng tự do
Phàm luật pháp do người thiết đặt
Thì tránh sao sai phạm bất kỳ
Chỉ ra điều ấy khó chi
Cùng nhau sửa đổi đến khi tựu thành

Anh chị em ai người dân Việt
Chung tay cùng gánh vác một phen

(Viết tặng những người cùng ký tên trong BẢN TUYÊN BỐ 258)

#tuyenbo258
.
Đọc tiếp...

BÊN THẮNG CUỘC - (Huy Đức) OsinBOOK 2012

Đây là công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật. Tuy tác giả có những cơ hội quý giá để tiếp cận với các nhân chứng và những thông tin quan trọng, cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, và sẽ còn được bổ sung khi một số tài liệu được Hà Nội công bố. Hy vọng bạn đọc sẽ giúp tôi hoàn thiện nó trong những lần xuất bản sau. Lịch sử cần được biết như nó đã từng xảy ra, và sự thật là một con đường đòi hỏi chúng ta không bao giờ bỏ cuộc.

(Huy Đức)


“Bên Thắng Cuộc của Huy Đức là quyển sách hay nhất về lịch sử Việt Nam sau 1975 mà tôi được biết.” – Trần Hữu Dũng, Đại học Wright, Ohio, USA


“Cuốn sách này nói về những sự thật khốc liệt, nhưng vì rất trung thực nên nó khiến ta bình tĩnh hơn trong thế giới và giữa đất nước khốc liệt ngày nay.” - Nguyên Ngọc, Đại học Phan Châu Trinh, Hội An, Việt Nam


“Bên Thắng Cuộc là tác phẩm ‘thực’ nhất, cho đến thời điểm này, ghi lại một giai đoạn lịch sử khốc liệt, thông qua tư liệu, của dân tộc từ biến cố 1975 đến nay.” – Đinh Quang Anh Thái, Nhật báo Người Việt, California, USA


“Cuốn sách phân tích tình hình Việt Nam từ năm 1975 - của một nhà báo sinh ra và lớn lên trong chế độ cộng sản - một cách chuyên nghiệp và công bằng hiếm có. Nó là một kho tàng dữ liệu quý báu, có thể làm ngạc nhiên cả những chuyên viên theo dõi chính trị Việt Nam trong nhiều thập niên qua.” – Nguyễn Mạnh Hùng, Đại học George Mason, Virginia, USA


"Huy Đức viết công trình khảo cứu lịch sử đặc sắc này với lương tâm trong sáng và tay nghề lão luyện của một nhà báo chuyên nghiệp có trách nhiệm trước vận mệnh của đất nước. Có công minh lịch sử mới có hòa giải dân tộc thưc sự" – Chu Hảo, Nhà Xuất bản Tri Thức, Hà Nội, Việt Nam


TẬP 1: GIẢI PHÓNG


 PHẦN I: MIỀN NAM  

Chương I: Ba Mươi Tháng Tư
Diễn biến quân sự và chính trị trong giai đoạn kết thúc cuộc chiến và những gì xảy ra trong dinh Độc Lập trong ngày 30-4
  • Đi từ bưng biền
  • Xuân Lộc
  • Tướng Big Minh
  • Trại Davis
  • Nguyễn Hữu Hạnh
  • Sài Gòn trong vòng vây
  • Xe tăng 390
  • Đầu hàng
  • Tuẫn tiết
Chương II: Cải Tạo
Những bàn bạc bên trong, quan điểm của chính quyền trong việc đối xử với “ngụy quân, ngụy quyền”, những thủ thuật được áp dụng để đưa sĩ quan vào trại cải tạo; số phận của những người tù không án, không biết ngày về và những bi kịch mà người thân của họ phải nhiều năm gánh chịu.

  • Những ngày đầu
  • “Ngụy Quyền”
  • “Ngụy Quân”
  • “Đoàn tụ”
  • “Phản động”
  • Tù và cải tạo
  • “Thăm nuôi”
  • “Học tập”
Chương III: Đánh Tư Sản
Những công cụ chuyên chính vô sản áp dụng ngay sau ngày 30-4-1975: Đánh tư sản vào tháng 9-1975 và liền sau đó là đổi tiền lần thứ nhất 22-9-1975; Cải tạo tư sản tháng 3-1978… Sự khác nhau của cải tạo tư sản và đánh tư sản

  • “Chiến dịch X-2”
  • Đổi tiền
  • “Gian thương”
  • “Cải tạo công thương nghiệp tư doanh”
  • Hai gia đình tư sản
  • Kinh tế mới
Chương IV: Nạn Kiều
Sự thật về vấn đề người Hoa năm 1978

  • Đội quân thứ năm
  • Hiệp định Geneve
  • “Chổi ngắn không quét xa”
  • Hoàng Sa
  • Sợ “Con ngựa thành Troy”
  • “Nạn Kiều”
  • “Phương án II”
  • “Ban 69”
  • Vụ Cát Lái.
Chương V: Chiến Tranh
Nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh ở CPC và biên giới phía Bắc năm 1979

  • Biên giới Tây Nam
  • Pol Pot
  • Đi dây
  • Khmer Đỏ và Campuchia dân chủ
  • “Kẻ Thù Lịch Sử”
  • Thất bại trong tấn công ngăn chặn [Pre-emptive War]
  • “Nhất biên đảo”
  • “Áo lính lại khoác vào ngay”
Chương VI: Vượt Biên
Điều gì đã khiến cho hàng triệu người VN phải bỏ nước ra đi. Bi kịch của người dân và thái độ chính quyền trước cuộc tị nạn lớn nhất của người Việt Nam trong lịch sử

  • “Vượt biên”
  • Từ “trí thức yêu nước”
  • Đến “thường dân”
  • Trước khi tới biển
  • Trại tị nạn
Chương VII: “Giải Phóng”
Cuộc chiến tranh được gọi là giải phóng có thực sự giải phóng sau những gì mà những người cộng sản áp dụng tại miền Nam

  • Sài Gòn thay đổi
  • Kinh tế mới
  • Đốt sách
  • Cạo râu
  • “Cách mạng là đảo lộn”
  • Lòng người
  • Những người sinh ra không đúng cửa
  • “Cánh cửa” Thanh niên xung phong
  • Cửa không đủ rộng
  • “Nổi loạn”
  • “Sài Gòn lại bắt đầu ghẻ lở”


PHẦN II: THỜI LÊ DUẨN

Chương VIII: Thống Nhất
Những lo lắng từ hai phía đặc biệt là của ông Lê Duẩn dẫn đến quyết định thống nhất hai miền cả về chính trị và kinh tế, áp dụng mô hình miền Bắc vào miền Nam một cách vội vã, mặc dù, nhiều người lúc đó, kể cả ông Lê Duẩn, nhận thấy nền kinh tế tư nhân miền Nam hiệu quả hơn những gì áp dụng trên miền Bắc

  • Nước Việt Nam là một
  • “Bắc hóa”
  • Chủ nghĩa xã hội
  • “Con đường của Bác”
  • “Mỗi người làm việc bằng hai”
  • Lê Duẩn và mối tình miền Nam
  • Chấp chính và chuyên chính
Chương IX: Xé Rào
Chính sách kinh tế kế hoạch hóa và sản xuất lớn nhằm “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên XHCN” đã dẫn đất nước đến chỗ kiệt quệ. Người dân và chính quyền các địa phương, thay vì tuân thủ các nguyên tắc của nền kinh tế “kế hoạch hóa tập trung” chấp nhận một số quy luật của kinh tế thị trường, tiến trình này bị coi là “xé rào” nhưng chính những “lỗ thủng” đó đã trở thành lối thoát cho dân chúng

  • Bế tắc
  • Mậu dịch quốc doanh
  • Máy bỏ không, công nhân cuốc ruộng
  • Tháo gỡ
  • Nghị quyết Trung ương Sáu
  • Bù giá vào lương
  • Cắm cờ xé rào
  • Khoán chui
  • Ông Kiệt xé rào, ông Linh lãnh đạn
  • “Ai thắng ai”
Chương X: Đổi Mới
Vai trò của Trường Chinh trong việc tiếp thu thực tiễn và chuẩn bị về mặt lý luận để những người cộng sản chấp nhận kinh tế nhiều thành phần, điều mà về sau gọi là đổi mới

  • Hội nghị Đà Lạt
  • Nhóm giúp việc mới
  • Người của những khúc quanh lịch sử
  • Từ chính sách Kinh Tế Mới
  • Đến chọc thủng bức tường bao cấp
  • Giá-Lương-Tiền
  • Nã pháo vào bộ tổng
  • Khép lại trang sử Lê Duẩn
  • Vai trò của Mikhail Gorbachev
  • Tuyên ngôn đổi mới
  • Bàn tay Lê Đức Thọ
  • Phút 89
Chương XI: Campuchia
Dù muốn hay không, Campuchia đã “nằm trong một trang sử” của Việt Nam. Không gian chiến tranh trong thập niên 1980s và cách mà Việt Nam đã làm để thoát ra khỏi hai cuộc chiến: Biên giới phía Bắc và Campuchia

  • “Pot ở đầu phum ta cuối phum”
  • “Xuất khẩu cách mạng”
  • Tư tưởng nước lớn
  • Bị cô lập
  • Phương Bắc
  • Hội nghị Thành Đô
  • Campuchia thời hậu Việt Nam

---------------------------------

Mấy lời của tác giả

Không ai có thể đi đến tương lai một cách vững chắc nếu không hiểu trung thực về quá khứ, nhất là một quá khứ mà chúng ta can dự và có phần cộng đồng trách nhiệm.

Cuốn sách này bắt đầu bằng những câu chuyện xảy ra trong ngày 30-4-1975. Ngày mà tôi, một cậu bé mười ba, trước giờ học chiều, đang vật nhau ven đồi thì nghe loa phóng thanh truyền tin “Sài Gòn giải phóng”. Thay vì tiếp tục ăn thua, chúng tôi buông nhau ra. Miền Nam, theo như những bài học của chúng tôi, sẽ chấm dứt “hai mươi năm rên xiết lầm than”. Trong cái thời khắc lịch sử ấy, trong đầu tôi, một sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, xuất hiện ý nghĩ: phải nhanh chóng vào Nam để giáo dục các bạn thiếu niên lầm đường lạc lối.

Nhưng hình ảnh miền Nam đến với tôi trước cả khi tôi có cơ hội rời làng quê nghèo đói của mình. Trên quốc lộ Một bắt đầu xuất hiện những chiếc xe khách hiệu Phi Long thỉnh thoảng tấp lại bên những làng xóm xác xơ. Một anh chàng tóc ngang vai, quần loe, nhảy xuống đỡ khách rồi đu ngoài cánh cửa gần như chỉ trong một giây trước khi chiếc xe rú ga vọt đi. Hàng chục năm sau, tôi vẫn nhớ hai chữ “chạy suốt” bay bướm, sặc sỡ sơn hai bên thành xe. Cho tới lúc ấy, thứ tiếng Việt khổ lớn mà chúng tôi nhìn  thấy chỉ là những chữ in hoa cứng rắn viết trên những băng khẩu hiệu kêu gọi xây dựng chủ nghĩa xã hội và đánh Mỹ.

Những gì được đưa ra từ những chiếc xe đò Phi Long thoạt đầu thật giản đơn: mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe, cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra, con búp bê nhựa - biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe - buộc trên ba lô của một anh bộ đội phục viên may mắn.

Những cuốn sách của Mai Thảo, Duyên Anh được các anh bộ đội giấu dưới đáy ba lô đã giúp bọn trẻ chúng tôi biết một thế giới văn chương gần gũi hơn Rừng Thẳm Tuyết Dày1, Thép Đã Tôi Thế Đấy2. Những chiếc máy Akai, radio cassettes, được những người hàng xóm tập kết mang ra, giúp chúng tôi biết những người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ, nhớ em, chứ không chỉ có “đêm Trường Sơn nhớ Bác”. Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi.

Tôi vẫn ở lại miền Bắc, chứng kiến thanh niên quê tôi đắp đập, đào kênh trong những năm “cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”, chứng kiến khát vọng “thay trời, đổi đất, sắp đặt lại giang san” của những người vừa chiến thắng trong cuộc chiến ở miền Nam, rồi chứng kiến cũng những con kênh đó không những vô dụng với chủ nghĩa xã hội mà còn gây úng lụt quê tôi mỗi mùa mưa tới. Năm 1983, tôi có một năm huấn luyện ở Sài Gòn trước khi được đưa tới Campuchia làm chuyên gia quân sự. Trong một năm ấy, hai cô em gái của Trần Ngọc Phong3, một người bạn học chung ở trường sỹ quan, hàng tuần mang tới cho tôi bốn, năm cuốn sách. Tôi bắt đầu biết đến rạp chiếu bóng, Nhạc viện và sân khấu ca nhạc. Cho dù đã kiệt quệ sau tám năm “giải phóng”, Sài Gòn với tôi vẫn là một “nền văn minh”. Những năm ấy, góc phố nào cũng có mấy bác xích lô vừa mỏi mòn đợi khách vừa kín đáo đọc sách. Họ mới ở trong các trại cải tạo trở về. Tôi bắt đầu tìm hiểu Sài Gòn từ câu chuyện của những bác xích lô quen như vậy.

Mùa hè năm 1997, một nhóm phóng viên vì nhiều lý do phải rời khỏi tờ báo Tuổi Trẻ, gồm Đoàn Khắc Xuyên, Đặng Tâm Chánh, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Tuấn Khanh, Huỳnh Thanh Diệu, Huy Đức. Chúng tôi thường xuyên gặp gỡ, chia sẻ và trao đổi với các đồng nghiệp như Thúy Nga, Minh Hiền, Thế Thanh, Phan Xuân Loan... Thế Thanh lúc ấy cũng vừa bị buộc thôi chức tổng biên tập báo Phụ Nữ Thành Phố, và cũng như Tổng Biên tập báo Tuổi Trẻ Kim Hạnh trước đó, chị không được tiếp tục nghề báo mà mình yêu thích.

Chúng tôi nói rất nhiều về thế sự, về những gì xảy ra trên thế giới và ở đất nước mình. Một hôm ở nhà Đỗ Trung Quân, nhà báo Tuấn Khanh, người vừa gặp rắc rối sau một bài báo khen ngợi ca sỹ bị coi là chống cộng Khánh Ly, buột miệng nói với tôi: “Anh phải viết lại những gì diễn ra ở đất nước này, đấy là lịch sử”. Không ai để ý đến câu nói này của Tuấn Khanh, nhưng tôi lại bị nó đeo bám. Tôi tiếp tục công việc thu thập tư liệu với một quyết tâm cụ thể hơn: Tái hiện giai đoạn lịch sử đầy bi kịch của Việt Nam sau năm 1975 trong một cuốn sách.

Rất nhiều thế hệ, kể cả con em của những người đã từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng hòa, sau ngày 30-4-1975 đã trở thành sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Nhiều người không biết một cách chắc chắn điều gì đã thực sự xảy ra thậm chí với ngay chính cha mẹ mình.

Không chỉ thường dân, cho đến đầu thập niên 1980, nhiều chính sách làm thay đổi số phận của hàng triệu sinh linh như “Phương án II”4, như “Z30”5 cũng chỉ được quyết định bởi một vài cá nhân, nhiều người là ủy viên Bộ Chính trị cũng không được biết. Nội bộ người Việt Nam đã có nhiều đụng độ, tranh cãi không cần thiết vì chỉ có thể tiếp cận với lịch sử qua những thông tin được cung cấp bởi nhà trường và bộ máy tuyên truyền. Không chỉ các thường dân, tôi tin, những người cộng sản có lương tri cũng sẽ đón nhận sự thật một cách có trách nhiệm.

Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975 - ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc. Hãy để cho các nhà kinh tế, chính trị học, và xã hội học nghiên cứu kỹ hơn hiện tượng lịch sử này. Cuốn sách của tôi đơn giản chỉ kể lại những gì đã xảy ra ở Sài Gòn, ở Việt Nam sau ngày 30-4: cải tạo, đánh tư sản, đổi tiền… Cuốn sách của tôi cũng nói về hai cuộc chiến tranh cuối thập niên 1970, một với Khmer Đỏ và một với người Trung Quốc. Cuốn sách của tôi cũng nói về làn sóng vượt biên sau năm 1975, và về sự “đồng khởi” của nông dân, của các tiểu chủ, tiểu thương để dành lấy cái quyền được tự lo lấy cơm ăn áo mặc.

Tư liệu cho cuốn sách được thu thập trong hơn hai mươi năm. Trong vòng ba năm, từ tháng 8-2009 đến tháng 8-2012, tôi đã dành toàn bộ thời gian của mình để viết. Bản thảo cuốn sách đã được gửi tới một số thân hữu và một số nhà sử học, trong đó có năm nhà sử học uy tín của Mỹ chuyên nghiên cứu về Việt Nam. Sau khi sửa chữa, bổ sung, tháng 11-2012, bản thảo hoàn chỉnh đã được gửi đến một số nhà xuất bản trong nước, tuy nhiên, nó đã bị từ chối. Cho dù một số nhà xuất bản tiếng Việt có uy tín tại Mỹ và Pháp đồng ý in, nhưng để lãnh trách nhiệm cá nhân và giữ cho cuốn sách một vị trí khách quan, tác giả quyết định tự mình đưa cuốn sách này đến tay bạn đọc.

Đây là công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật. Tuy tác giả có những cơ hội quý giá để tiếp cận với các nhân chứng và những thông tin quan trọng, cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, và sẽ còn được bổ sung khi một số tài liệu được Hà Nội công bố. Hy vọng bạn đọc sẽ giúp tôi hoàn thiện nó trong những lần xuất bản sau. Lịch sử cần được biết như nó đã từng xảy ra, và sự thật là một con đường đòi hỏi chúng ta không bao giờ bỏ cuộc.


HUY ĐỨC, Sài Gòn – Boston, 2009-2012



Chương I: Ba Mươi Tháng Tư

Ba mươi tháng Tư năm 1975 là ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam. Ngày mà những người anh em miền Nam buông súng đầu hàng miền Bắc. Ngày chấm dứt hơn hai mươi năm “da thịt tàn nhau, vạ trong tường vách”. Nhưng, không phải cứ súng ống vứt đi là sẽ có hòa bình.

Đi từ bưng biền

Sáng sớm ngày 30-4-1975, “cánh” của ông Võ Văn Kiệt về tới một khu “đám lá tối trời” thuộc huyện Bình Chánh. Hai mươi hai ngày trước, ông Lê Đức Thọ vào Trung ương Cục, sau đó, công bố quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng thời trao quyết định cử ông Võ Văn Kiệt làm bí thư Đảng ủy Đặc biệt Ủy ban Quân quản Sài Gòn-Gia Định, cử ông Lê Đức Anh làm phó bí thư kiêm chủ tịch Ủy ban Quân quản, và ông Mười Cúc Nguyễn Văn Linh đảm trách lực lượng nổi dậy phối hợp với quân chủ lực.

Từ R, căn cứ Trung ương Cục ở huyện Lộc Ninh, ông Kiệt cùng một bộ phận phục vụ gọn, khoảng hai trung đội, chạy xe Honda 67 bọc qua phía Campuchia, tới cửa biên giới Mỏ Vẹt, Long An thì bỏ xe lại, đi bộ. Ông Kiệt không lúc nào rời chiếc radio ba làn sóng hiệu JVC của Nhật. Đài Hà Nội lúc đó gần như liên tục phát Bão Nổi Lên Rồi, một bài hát mà nhịp điệu thì hối hả, lời lẽ thì thôi thúc: “Từ Trị Thiên băng qua Tây Nguyên đi tới bưng biền lòng người bừng bừng, cùng tiến lên thời cơ đã đến rồi”.

Thời cơ đã đến! Anh em phục vụ quan sát thủ trưởng, trong lòng cảm thấy lần này chắc ăn. Nhưng thủ trưởng vẫn im lặng. Ngày 27-4, đoàn vượt qua sông Vàm Cỏ Đông, tới xã Mỹ Hạnh, huyện Đức Hòa, gặp cánh ông Mai Chí Thọ đã về trước ém quân ở đó. Ông Năm Xuân Mai Chí Thọ, phó bí thư Khu uỷ Sài Gòn-Gia Định vào thời điểm đó, là người thông thạo các đầu mối hoạt động nội thành. Hai đoàn bắt đầu nhập lại làm một. Ít ai nghĩ rồi những người đàn ông mặc đồ bà ba đen, đi dép râu, mặt mũi khắc khổ, đang xắn quần lội ruộng đó, chỉ vài ngày nữa sẽ nắm quyền lãnh đạo Sài Gòn - Hòn Ngọc Viễn Đông.
Trích trang 19 (Bản điện tử epub)

...

Việc đưa vào tù hàng trăm nghìn con người đã buông súng hoặc không hề cầm súng, không bằng một bản án của tòa, sau ngày 30-4-1975, và đặc biệt, câu chuyện đưa 1.652 con người trên tàu Việt Nam Thương Tín vào tù được kể lại sau đây, thật khó để nói là may mắn.

Trưa 29-4-1975, Dân biểu Nguyễn Hữu Chung có được một “sự vụ lệnh” do Tổng thống Dương Văn Minh ký cho phép tàu Việt Nam Thương Tín thực hiện chuyến di tản cuối cùng. Sáng 30-4-1975, khi con tàu này ra tới cửa sông, đã bị B40 bắn theo, giết chết nhà văn Chu Tử, chủ nhiệm Nhật báo Sống. Con tàu Việt Nam Thương Tín và hàng nghìn người nằm đợi ở đảo Guam gần năm tháng. Sự chờ đợi trước một tương lai vô định trong khi vợ con, cha mẹ vẫn đang kẹt lại quê nhà đã khiến cho nhiều người muốn quay lại Việt Nam, nơi mà họ tin là đã bắt đầu thống nhất và chắc chắn có hòa bình.

Một trong số ấy là Đại úy tình báo Võ Tính. Ông Võ Tính được người Mỹ tạo điều kiện đưa toàn bộ gia đình di tản. Tuy nhiên, cha ông nói: “Tao chờ đến ngày đất nước thống nhất, tại sao tao phải đi khi ngày đó gần kề”. Còn cha vợ ông thì khi đó đang mong hai người con trai tập kết từ năm 1954 trở lại. Ông Võ Tính đã định ở lại Việt Nam, nhưng vào những ngày cuối tháng 4-1975, người Mỹ khuyến cáo là sẽ vô cùng nguy hiểm. Ông Tính được đưa ra Phú Quốc và khi Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, ông được đưa ra Hạm đội 7 để rồi sau đó tới Guam. Cũng như nhiều người lính khác, Đại úy Võ Tính không chắc có bị “Việt Cộng” trả thù trong khi, từ trong thẳm sâu, ông nhận thấy chỉ có Việt Nam mới là tổ quốc. Không tìm được lý do hợp lý để bỏ nước, bỏ cha mẹ già, người vợ trẻ và 3 đứa con thơ, Đại úy Võ Tính đã tham gia vận động để người Mỹ cho phép những người Việt quay lại Việt Nam bằng con tàu Việt Nam Thương Tín.

Ngày 29-9-1975, sau khi Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc nhận được sự đồng ý của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, tàu Việt Nam Thương Tín rời Guam trong một buổi lễ tiễn đưa trang trọng: có những phụ nữ mặc áo dài, chào cờ và được truyền hình Mỹ tường thuật. Trung tá Hải quân Trần Đình Trụ được ủy nhiệm chỉ huy chuyến trở về của con tàu này.

Sau hai tuần hải hành, tàu Việt Nam Thương Tín về đến hải phận Vũng Tàu. Mãi tới hôm sau, hai tàu Hải Quân treo cờ đỏ sao vàng mới chạy ra và dừng lại cách tàu Việt Nam Thương Tín gần 200m. Những người lính Hải quân dùng ống nhòm quan sát rất kỹ và sau mấy giờ, họ hướng dẫn tàu Việt Nam Thương Tín chạy ngược ra phía miền Trung. Những người trở về bắt đầu linh cảm điều gì đó bất thường nhưng họ vẫn còn hy vọng và vẫn còn chờ đợi.

Tới Nha Trang, tàu bị dẫn vào Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân. Tất cả mọi người đều bị dồn lên những chiếc xe bít bùng và khi được chở tới Trung Tâm Thẩm Vấn của Quân đoàn II thì mọi người được lệnh “phải trút bỏ hết quần áo, bị khám xét rất nhiều lần từ đầu đến chân, được phát cho hai bộ đồ lính rộng thùng thình, một chiếc chiếu rộng 8 tấc rồi dẫn đi nhốt vào phòng giam”. Trừ một đứa bé khi ấy 7 tuổi, tất cả đều phải đi tù, người ít nhất 9 tháng, người lâu nhất - Trung tá Trần Đình Trụ - phải ở tù tới 13 năm.
Trích từ trang 68 đến trang 69 (Bản điện tử epub)

...

Bán nhà chưa phải là bi kịch lớn nhất. Theo Đại úy Tạ Chí Đại Trường: “Có những người vợ đã phải đi bán thân. Có những người vợ đã phải sử dụng thế mạnh của đàn bà để kinh doanh, buôn bán. Khi người trụ cột kinh tế là đàn bà, con gái và trẻ em, lại phải tìm cách qua mặt công an, luồn lọt công quyền, ứng biến khi sơ thất ngay cả trên đường xa… thì không thể nào trách những người phụ nữ ấy. Chuyện một bà tứ tuần có mang với anh tài xế xe hàng, một bà vợ sỹ quan bán chợ trời cặp với anh lính cũ của chồng mình… cũng không có gì bất ngờ khi nó được đưa vào trại”.

Cũng có những người tù cải tạo thương vợ thật lòng viết thư về nói: “Thôi, đời anh như vậy là hết rồi, em nên đi tìm hạnh phúc mới, coi có người bộ đội nào…”.
Điều đó lại chạm vào tự ái của một số người quản giáo duyệt thư, nhiều anh đã kiêu hùng, mắng: “Nhà nước giam giữ các anh không phải nhằm mục đích chia rẽ gia đình, và chúng tôi chiến đấu không phải là để cướp đoạt vợ con của các anh!”.

Có lẽ, nếu có ai mất vợ thì cũng chỉ vì thời thế. Vợ của nhà thơ Tạ Ký đã đi lấy chồng “Việt Cộng” khi ông còn bị giam ở trại T6, Long Khánh, cùng với nhà sử học Tạ Chí Đại Trường và họa sỹ Trịnh Cung.

Trại T6 có một nhà xí hai ngăn nằm ngay rìa đường vào rẫy của dân, sát bờ rào dây kẽm gai. Thời gian đầu, thân nhân chưa được chính thức thăm nuôi, các trại viên T6 có sáng kiến dùng nhà xí để nhận tin gia đình và trò chuyện với người thân mà không bị quản giáo phát hiện. Các trại viên thường thay phiên nhau ra ngồi “trực” ở đó để chờ nhận tin nhắn, nhiều tù nhân đã gặp được người thân, những người cất công đi tìm chồng, tìm con, tìm cha, dù chỉ để nhìn thoáng thấy mặt nhau trong giây lát hay nói thật nhanh một câu báo tin nhà. Họ thường phải lên đấy trước, mượn quần áo làm đồng, cuốc xẻng của những nông dân sống gần trại để ngụy trang và nhờ chính những nông dân này che giấu, men theo hàng rào kẽm gai như những người dân đi làm ruộng tình cờ ngang qua hố xí. Cũng chính nơi đó, những người tù nôn nao ngồi chờ…

Một ngày cận Tết năm 1976, đúng vào phiên “trực hố xí” của họa sỹ Trịnh Cung, ông nhận được tin nhắn: Tạ Ký gặp mẹ lúc 2 giờ trưa nay!”. Trịnh Cung vội báo tin cho Tạ Ký. Khi đó, theo ông Trịnh Cung: “Đó là một tin vui bất ngờ của Tạ Ký vì đã nửa năm chưa được thăm nuôi. Nhưng thông tin mà anh nhận được từ mẹ chỉ là: Vợ con nó lấy thằng Việt cộng rồi. Ở nhà có mẹ lo sắp nhỏ, con yên tâm. Khi được phép, mẹ sẽ đi thăm”. Không riêng Tạ Ký, không ít sỹ quan “Ngụy” từ trại cải tạo, khi đột ngột trở về đã phải đột ngột bước ra khỏi nhà mình, vì “đứa con ngày chia tay còn thơ không còn nhận ra mình, trong khi trong nhà lại treo cái nón cối”.
Trích từ trang 74 đến trang 75 (Bản điện tử epub)

...


--------------------
Download Bên thắng cuộc: (PDF version)

BÊN THẮNG CUỘC (P. 1 - GIẢI PHÓNG) Mediafire
Download: (mobi/prc/epub version) Mediafire

BÊN THẮNG CUỘC (P. 2 - QUYỀN BÍNH) Mediafire

Unrar pass:"ton-trong-tac-quyen-2012"

Visit: http://www.smashwords.com/books/view/263208 to purchase this book to continue reading. Show the author you appreciate their work!
.
Đọc tiếp...

Lẳng lặng mà nghe...

Lẳng lặng mà nghe chúng ví von
Chính quyền - bố mẹ; dân - làm con
Dân chủ kiểu gì nghe tởm thế?
Pháp chế tèm lem miếng vải gòn

Lẳng lặng mà nghe chúng nỉ non
Chuyện nước chuyện nhà bé cỏn con
Để đấy chúng lo tròn bốn tốt
Mặc cho biên đảo cứ hao mòn

Chúng lại răn đe cấm biểu tình
Muốn được yên lành phải lặng thinh
Sĩ nông công chức thành vô cảm
Ngụp lặn bon chen dưới vũng sình

Chúng vẫn đang tâm nấu cháo lừa
"Thiên đàng" chủ thuyết nát từa lưa
Treo cao chót đỉnh buồm dân tộc
Vận thuyền Âu Lạc gió đong đưa

Ngẫm phận nam nhi giữa bể đời
Sóng cả xô thuyền đi muôn nơi
Quỵ gối khom lưng làm quỷ đỏ
Hay cùng sóng dậy với ngàn khơi?

(Kính lạy hương hồn cụ Tú Xương)

.

Đọc tiếp...

Năm Tân Mão 2011 qua góc nhìn của vần CHỜ (CH..)

Lịch tây đã qua trang mới, lịch ta đang rơi những tờ cuối cùng.
Thời khắc lộn xộn "cũ người mới ta" này xem ra lòng người cũng ngổn ngang trăm mối. Không ít người thừa nhận năm vừa qua là một năm không mấy dồi dào hanh thông trên mọi lãnh vực. Vì thế mà nhiều tờ báo, trang mạng đặt tựa cho năm Nhâm Thìn 2012 sắp tới là Mùa Xuân Hy Vọng, như thể đặt niềm tin vào sứ mệnh thần kỳ của linh vật thần thoại duy nhất trong 12 con giáp phương Đông.

Hy vọng thường gắn liền với chờ đợi, như văn hào A. Dumas đã đúc kết: "Toàn bộ sự khôn ngoan của Con Người chứa đựng trong hai từ Hy vọng và Chờ đợi" (*). Trong khi chờ đợi Mùa Xuân Hy Vọng sắp ghé qua mảnh đất hình chữ S này (như Mùa Xuân Ả Rập đã từng ghé các nước Trung Đông và Phi Châu), ta biết làm gì hơn là... chờ chăng? :(

Và xin phép được tóm lược các sự kiện trong năm qua dưới góc nhìn của vần CH... (đánh vần là xê-hát-ơ-chơ-huyền-chờ)

CHỐNG: Đây là sự kiện người dân ở 2 thành phố lớn nhất nước Hà nội, Sài gòn liên tục xuống đường vào các ngày Chủ Nhật để bảy tỏ thái độ phản kháng, chống lại sự lộng quyền của Trung Cộng trên biển Đông...

CHỤP: ...Và không ít người tham gia biểu tình đã bị chụp cho những chiếc mũ hão huyền là "chống phá", "gây rối", thậm chí có người còn bị quy chụp mũ "mất nhân phẩm" nên phải đưa vào trại phục hồi nhân phẩm!!!

CHÁY: Đó là sự cố cháy tòa tháp đôi cao nhất Việt Nam, rồi hàng loạt vụ cháy xe kỳ lạ từ ô-tô đến mô-tô của đủ các nhãn hiệu liên tục xảy ra trên khắp mọi miền. Sự tình hy hữu khó lý giải đến nỗi Bộ trưởng Giao thông vận tải đứng ra tuyên bố chịu trách nhiệm trong các vụ cháy xe!

CHIẾT: Trong khi dư luận đang hoang mang trước hiện tượng cháy nổ lạ thường này thì báo Thanh Niên đăng loạt bài Kinh hoàng “công nghệ” xăng dỏm. Có thể nói đây là phương pháp "chiết" xăng độc quyền chỉ có ở Việt Nam XHCN!

CHÌM: Giữa năm là vụ lật chìm nhà hàng nổi Dìn Ký trên sông Sài gòn. Tiếp đến là vụ các quan chức tỉnh nọ thuê hẳn một chiếc phà cùng tiếp viên ra giữa sông du hý, kết quả là một em chết chìm. Và rồi khi những ngày cuối cùng của năm 2011 sắp đi qua, biển Đông lại tiếp tục dậy sóng với tin con tàu container lớn thứ nhì của Việt Nam Vinalines Queen đã nằm sâu 5000m dưới vùng biển Đông Phi Luật Tân. 22 trong số 23 người của thủy thủ đoàn vẫn còn mất tích. Sự việc càng trở nên ly kỳ bí hiểm khi thuyền viên duy nhất sống sót trở về đã bị khống chế cách ly báo giới từ chân cầu thang máy bay.

CHỬI: Có lẽ sự kiện khiến cho cư dân mạng chửi rủa thậm tệ nhất là trò 6 sao trên lá cờ của nước CHND Trung Hoa xuất hiện trên bản tin của các hãng thông tấn Việt Nam và thế giới. Sự việc trầm trọng không chỉ vì nó xảy ra vào thời gian và địa điểm "nhạy cảm", mà còn vì nó lặp lại 2 lần.

CHẾT: Sinh tử là lẽ thường của nhân gian. Nhưng năm vừa qua chứng kiến một loạt cái chết của những tay trùm khủng bố và độc tài: Osama bin Laden, Muammar al-Gaddafi, Kim Jong-il...

CHUI: Tháng 11/2011, hầm Thủ Thiêm đi vào vận hành, dân Sài gòn tống biệt bến phà Thủ Thiêm để chui hầm qua lại đôi bờ Quận 1 và 2.

CHƠI: Quan chức Việt Nam nổi tiếng với những tay chơi khét tiếng như con bạc triệu đô, năm nay lại có thêm kỳ thủ tiền tỷ. Ai dám bảo Việt Nam còn nghèo nào?

CHIÊU: Thuật ngữ "chơi chiêu" thường dùng để diễn tả một hành động được thực hiện bởi phương thức không tường minh. Vùng áp dụng của nó rộng hơn so với mưu lược (hướng thiện) và thủ đoạn (hướng ác). Vì thế nên bây giờ người ta thường dùng nó thể thay thế thủ đoạn khi không muốn nặng nề hóa vấn đề. Chẳng hạn, ta có thể nói nhà cầm quyền năm nay "chơi chiêu" hơi bị nhiều khi ra QĐ xử phạt hành chính gia đình nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn; QĐ đưa chị Bùi Thị Minh Hằng vào trại phục hồi nhân phẩm; hay đưa hình ảnh các nhân sĩ trí thức tham gia biểu tình lên TV như là những kẻ gây rối trật tự công cộng; Nhà báo Hoàng Khương vi phạm quy trình tác nghiệp... Nếu kể cho hết các kiểu "chơi chiêu" này chắc... qua năm mới :))

CHẾ: Vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Tiên Lãng, Hải Phòng: Dân sử dụng vũ khí tự chế làm trọng thương 6 nhân viên công lực có vũ trang. Giới chỉ huy chiến dịch cưỡng chế chống chế rằng đã không lường trước diễn tiến vì dân Tiên Lãng xưa nay vốn... thuần !?
Thuần dữ cái gì, tức nước vỡ bờ thôi. Dồn người ta đến đường cùng thì hoa cải cũng biết đì đùng chớ!

CHÉM: Mặc dù được chân lý sáng ngời của "trí tuệ đỉnh cao" dìu dắt dạy bảo ngót 70 chục năm qua, xã hội Việt Nam ngày càng trở nên rối rắm phức tạp và xuống cấp thê thảm với những chuyện cướp - giết - hiếp thường nhật. Và vụ việc kinh hoàng nhất năm vừa rồi mang tên sát thủ máu lạnh lê-văn-luyện (Xin phép các nhà ngôn ngữ học cho mình một ngoại lệ viết thường danh từ riêng ở đây). Cái hậu của nó mới ghê gớm khi trong ngôn ngữ của tuổi teen xuất hiện từ "vãi luyện". Và mới hôm qua khi lên Android Market cập nhật thì thấy mới xuất hiện game mang tên "lê-văn-luyện gọi điện". Pó-toàn-thân luôn!

CHÉP: Giáo dục Việt Nam dưới thời XHCN có nhiều giai thoại cười ra nước mắt, nhưng phổ biến nhất là vấn nạn sao chép của người khác xào nấu thành luận án của mình. Vừa rồi lại có chuyện giáo viên dạy toán 12 bắt học sinh chép phạt, phương pháp sư phạm thế nào không biết, đến nỗi một nữ sinh nhảy lầu tự vẫn :(

CHÊ: Trong khi nhiều kẻ đánh đổi cả thiên chức làm người của mình để lấy tiền vàng, có người dứt khoát chê hơn 6 tỷ bạc chỉ với câu nói chất phác: "Mấy tờ vé số này ảnh chưa trả tiền, trúng hay trật cũng là của ảnh, tôi mà không trả thì thiên hạ coi tôi ra gì nữa!". Đó vụ trúng số độc đắc hy hữu ở Long An mà nhiều tờ báo giật tít là: Người bán vé số "chê" 6,6 tỉ đồng.

CHÁN: Có lẽ đây là từ ngắn gọn và chính xác nhất để nói về bóng đá Việt Nam năm rồi. Miễn bình luận thêm!

CHOÁNG: Đó là trạng thái của những ai quan tâm và tham gia kinh doanh vàng trong năm 2011. Loạn giá thay đổi vô chừng, có lúc chạm ngưỡng 48 triệu VNĐ/lượng.

CHÔM: Nhưng có lẽ ngót 90 triệu dân Việt mới thực sự choáng khi trong những ngày cuối năm lại có tin Bộ Giao thông vận tải sẽ thu phí lưu thông của xe gắn máy. Kiểu này các bác tài xế xe ôm chắc chỉ có nước đi... khất thực! :( Nhiều blogger đã thẳng thừng gọi đây là hiện tượng người dân bị móc túi bởi "tầng lớp đứng đường cao cấp"! Thôi mình cứ gọi là bị chôm cho nó nhẹ chút :))

CHỜ-THỜI: Tâm trạng này có lẽ là của số đông. Nhiều người khuyên nhủ mình rằng cái xấu cái ác thì sớm muộn gì nó cũng tự diệt vong thôi. Mình ra mặt tranh đấu làm gì để chuốc lấy thiệt thòi.
Mình đồng ý, nhưng nếu ai cũng nghĩ vậy thì thời gian chờ sẽ lâu lắm, sao mình không góp tay tác động cho nó diễn ra nhanh hơn?

Tạm thời như vậy, trước thềm năm mới Nhâm Thìn, kính chúc quý vị đón một mùa xuân trên cả niềm hy vọng. Hy vọng để sống, xin đừng chờ đợi thụ động nữa.


--------------------
(*) God will deign to reveal the future to man, all human wisdom is contained in these two words, Wait and Hope - Alexandre Dumas.

.

Đọc tiếp...

NGÀY LONG TRỜI ĐÊM LỞ ĐẤT (Trần Thế Nhân)

Cuốn tiểu thuyết NGÀY LONG TRỜI ĐÊM LỞ ĐẤT của Trần Thế Nhân - một tác giả ẩn danh đang sống tại Việt Nam - mô tả tính chất rùng rợn dã man của công cuộc Cải cách Ruộng đất (CCRĐ) thời 1950s. Với bút pháp hư cấu pha trộn tả thực, tác giả khắc họa số phận những nạn nhân tiêu biểu trong cuộc tắm máu tầng lớp "tư sản - địa chủ" cách đây ngót nửa thế kỷ.

Cho dù CCRĐ là một vết thương nhức nhối của dân tộc Việt, một bóng đen mờ ám của lịch sử, thì việc xem xét nó trong bối cảnh hiện nay là điều khẩn thiết. Bởi lẽ, những người dấn thân cho nền Dân chủ đang phải chịu cảnh lao tù với tội danh "chống phá chế độ", và những tiếng nói thẳng thắn vạch trần tội ác dối trá không ngừng bị đán áp bịt miệng với chiếc mũ "tuyên tuyền chống nhà nước XHCN"...

Mặc dù mức độ không đẫm máu như cuộc CCRĐ, nhưng những tai ương đang hằng ngày cản trở lộ trình phát triển của dân tộc này đều phát sinh từ một nguồn gốc. Đó là hình thái xã hội đã bị thế giới văn minh ném vào sọt rác từ hơn hai mươi năm trước: Chủ nghĩa Cộng sản độc tài và sắt máu!

NGÀY LONG TRỜI ĐÊM LỞ ĐẤT - một lần nữa khẳng định chân lý "Đường cong hay tối, dối trá hay cùng" - để cảnh báo những kẻ đang tâm thủ ác, dù có thủ đoạn che đậy thế nào, cũng có ngày bị phơi bày trước sự công tâm của lịch sử. Và lời phán xét vẫn còn ở phía trước...

Ngày Long Trời Đêm Lở Đất

.

Đọc tiếp...

Lũng đoạn là cái quái gì? Ai có thể lũng đoạn thông tin ở VN trong thời đại nầy?

Hôm trước, có đọc một bài phản biện của blogger Trương Thái Du (từ đây viết tắt là TTD) về entry “Bức tường Berlin” trên blog của nhà báo Huy Đức. Nhận xét ban đầu là TTD sử dùng từ ngữ khá trau chuốt, hoa mỹ trên cả mức cần thiết trong văn phong của một bài phê bình. Đó cũng là một điều hay, dù sao thì nó vẫn dễ chịu hơn nhiều so với những ngôn từ lỗ mãng, thi thoảng vẫn nổ đôm đốp trong nhiều cuộc tranh luận trên Internet.

Tuy nhiên, đừng quá lạm dùng mỹ từ – và đặc biệt – tránh dùng sai ý nghĩa của nó!
Trong bài phản biện về “Bức tường Bá Linh” đăng trên Dân Luận, TTD đã dùng một từ sai nghĩa của nó. Đó là từ “hãn hữu” trong câu:

“Tôi rất hy vọng sẽ được trao đổi thêm với tác giả Huy Đức dưới hình thức blog, để nhận ra những thiên kiến đáng trách và sự hãn hữu của đầu óc mình”.

Theo mạch văn thì có lẽ TTD muốn ám chỉ đầu óc Huy Đức còn hạn chế lắm! Nhưng than ôi, “hãn hữu” trong Từ điển Tiếng Việt lại có nghĩa là “hiếm có, ít thấy”.

Trở lại bài viết của TTD có tựa đề “Thời đại lũng đoạn thông tin?”. Phần nội dung chính là chỉ trích sự nông nổi, thiếu tỉnh táo của giới blogger thông qua việc bình luận và dẫn đăng hai sự việc: Chuyện vợ chồng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy bị bắt giữ (đăng trên Dân Trí) và chuyện 200 ngư dân Việt Nam bị binh lính Trung Quốc cướp bóc, đánh đập khi trú bão trên đảo Hoàng Sa (đăng trên SGTT).

Trong Từ điển Tiếng Việt, “lũng đoạn” được định nghĩa như sau:
Là hành động tập trung vào trong tay mình mọi đặc quyền để từ đó khống chế và kiểm soát hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc xuất bản trong một hay vài ngành.

Trong Từ điển Việt – Việt online (như dict.vietfun.com, vdict.com, ...) đều xem “lũng đoạn” đồng nghĩa với “độc quyền”.

Và theo định nghĩa trên của Từ điển Tiếng Việt, thì cũng dễ nhận thấy ý nghĩa “lũng đoạn” và “độc quyền” là tương tự.

Thế mà các blogger khiêm tốn của chúng ta lại có khả năng độc quyền thông tin cơ đấy! Ô. TTD có lẽ cố tình không biết chuyện tường lửa được dựng lên vô tội vạ ở Việt Nam? Chuyện các blogger phải ẩn danh để bày tỏ chính kiến? Người chính danh thì bị sách nhiễu cực khổ như thế nào?

Blogger bày tỏ quan điểm chính trị chỉ chiếm một phần rất khiêm tốn trong số gần 20 triệu người lướt NET ở Việt Nam. Họ lấy đâu ra quyền hành và phương tiện để lũng đoạn thông tin?

Ô. TTD làm ơn trao lại cái danh hiệu cao quý “LŨNG ĐOẠN THÔNG TIN” cho những hành động xứng đáng sau đây:

+ Hơn 700 tờ báo và các cơ quan truyền thông buộc phải đi theo “lề bên phải”

+ Phát hình vu khống người ta đã “cúi đầu nhận tội” trong bản tin thời sự (thời điểm tất cả các đài địa phương bắt buộc phải chuyển tiếp VTV1). Trong khi bản thân những người ấy tuyên bố họ chưa bao giờ nhận tội trước tòa!

+ Bắt bớ người dân chỉ vì họ mặc chiếc áo có mang dòng chữ “Người Việt yêu nước”, “Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam”, “No Bauxite – No Chia”, “Giữ màu xanh và an ninh cho Việt Nam”

+ . . .

(Còn khá nhiều, không nhớ hết, độc giả có thể bổ sung)

.

Đọc tiếp...

Download Hồi ký của một thằng hèn (.PDF)

Bản này sưu tầm được từ các entry trên một blog Multiply. Sau khi tập hợp để chuyển sang định dạng PDF thì phát hiện blogger nọ đã post thiếu mất chương số mười (Sự trả giá quá đắt cho những vinh quang cay đắng). Việc tìm kiếm phần thiếu sót này không mấy khó khăn, cho dù kết quả trên Google lúc ấy chỉ là con số 1 duy nhất! Thế cũng vừa đủ để mình có trong tay trọn bộ Hồi ký của một thằng hèn.

Khi đã có được bản PDF hoàn chỉnh, ý nghĩ đầu tiên là post lên blog để chia sẻ cho mọi người. Ở Việt Nam trong thời điểm hiện tại đừng mơ có bản in tử tế được bán công khai! Nhưng cũng ngại vì biết quyển hồi ký này đã được Tủ sách Tiếng Quê Hương phát hành và giữ bản quyền. Vào blog của Nhạc sĩ Tô Hải để tìm số phone liên hệ hỏi ý kiến thì phát hiện tác giả đã bật đèn xanh rồi:

Trích từ entry http://langdu126.multiply.com/journal/item/101:

...Di cảo còn lại, hôm nay theo yêu cầu của nhiều friends trong và ngoài nước, tớ chỉ “chiều” được có thế mà thôi. Ngoài ra xin chờ ngày...tái bản hoặc những ai có bản in chính đánh máy post lên Internet (ăn cắp một cách…dễ thương nếu không cắt cúp, thêm bớt, xuyên tạc). Sau đây là Email của Hồng Thanh Quang, thư ký "An Ninh Thế Giới" xin lỗi tớ về một cộng tác viên viết "mò" về đời tư của tớ ở trên ANTG, ảnh hưởng tới sự mất đoàn kết trong gia đình. Cuối thơ xin lỗi có một... nguyện vọng sớm được đọc hồi ký của tớ nên tớ vội đánh máy một phần Chương 2 gửi cho An Ninh Thế Giới để "thăm dò" nên hôm nay mới còn bản lưu là như vậy đó!...


Như vậy mình có thể tạm an tâm để chia sẻ bản PDF cho cộng đồng. Mong muốn được góp phần mang SỰ THẬT đến cho tất cả mọi người. Mục tiêu cuối cùng là thấu hiểu bản chất của xã hội mình đang sống, qua đó chung tay xây dựng một chính thể tốt đẹp hơn, không chỉ cho bản thân mình mà cho nhiều thế hệ mai sau!

LƯU Ý QUAN TRỌNG TRƯỚC KHI XEM:
Vì đây là bản đánh máy lại từ bản gốc, còn một vài lỗi, độc giả vui lòng xem đính chính của Nhạc sĩ Tô Hải ở đây:
1) Trang 34:
Biết đâu lại chẳng được một căn hộ chung khu với ông chủ tịch Nhà Nước Trần Đức Lương như các ông nhạc trưởng Dương Ngọc Đức, Trọng Bằng [24].
Xin vui lòng sửa lại là:
Biết đâu lại chẳng được một căn hộ chung khu với ông Chủ tịch Nhà Nước Trần Đức Lương như các ông Đạo diễn Dương Ngọc Đức, Nhạc trưởng Trọng Bằng [24].

2)
...Người tố Trần Dần có "hai bàn tay trắng làm nên sự nghiệp" không phải là cụ Tô Hoài mà là một người quan trọng trong giới lãnh đạo âm nhạc, hiện nay đã chết nhưng con cái của họ đang rất tốt, không làm những gì đáng phải chịu tủi nhục vì cha mình... Tớ muốn thay cho câu "xin phép giấu tên" chính là vì lẽ đó...

(Nguồn: Thông báo đột xuất)


HỒI KÝ CỦA MỘT THẰNG HÈN (Bản PDF)

Download: HoiKyMotThangHen-ToHai.pdf

.
Đọc tiếp...

Hồi ký của một thằng hèn ra mắt độc giả

Nhạc sỹ Tô Hải, tác giả bài hát Nụ cười sơn cước, vừa có cuốn sách xuất bản tại hải ngoại.
Tựa đề cuốn Hồi ký của một thằng hèn đã gây ấn tượng mạnh mẽ trong cộng đồng mạng suốt mấy tháng qua.
Hôm Thứ Bảy 13/6/2009, tại tiểu bang California (Hoa Kỳ) đã diễn ra buổi lễ ra mắt cuốn hồi ký này.

Tên thật của ông là Tô Ðình Hải, sinh năm 1927 tại Hà Nội. Bắt đầu học chữ và học nhạc tại các trường Soeur Hà Nội. Sau khi đậu tú tài I chương trình Pháp, Tô Hải gia nhập Vệ Quốc Ðoàn rồi trở thành đảng viên đảng Cộng Sản. Từ năm 1947, tên tuổi Tô Hải được nhiều người biết đến với các ca khúc Nụ Cười Sơn Cước, Trở Lại Ðô Thành... Tô Hải viết nhiều, trên dưới một ngàn bản nhạc, nhưng như chính lời ông thú nhận, “hầu hết sáng tác của tôi là do 'hèn' nên nội dung chỉ là hát lên hát xuống các khẩu hiệu tuyên truyền.”

Năm 1960, Tô Hải từ bỏ đảng Cộng Sản, ra khỏi quân đội. Sau năm 1975, ông vào Sài Gòn và năm 1986 về hưu non, chọn Nha Trang là nơi ở ẩn để để tránh “phải nhận chỉ thị buộc viết cái gì, viết thế nào, viết cho ai.”

Nhà văn Uyên Thao, đại diện Tủ sách Tiếng Quê Hương
(Người có dấu x)
Nhạc sỹ Tô Hải còn được biết đến như là một blogger cao niên nhất Việt Nam hiện nay.
Sau thông báo đóng cửa của Y!360, nhạc sỹ đã có ngôi nhà mới trên Multiply.
Năm nay đã 83 tuổi, nhưng hằng tuần ông vẫn cặm cụi bên chiếc laptop viết blog, chia sẻ với cộng đồng.

Theo lời một người thân, ông dự định sau khi chết mới cho ra mắt cuốn hồi ký này (vì bản thân và gia đình đang sống tại Sài gòn).
Thế nhưng, trước phong trào Dân chủ đang sôi động tại Việt Nam, ông đi đến quyết định xuất bản sớm ngay khi mình còn sống.

Như thế là ông chấp nhận đối diện với sự tấn công của báo chí lề phải:
“Xin đừng gọi tôi là nhà văn vì sách chưa ra mà báo đảng bên này đã lôi tôi ra sỉ vả tôi có là nhà văn bao giờ đâu. Vả lại tôi tự nhận không phải là nhà văn, cuốn sách này chỉ là một lời thú tội của một thằng đã sống hèn cả một cuộc đời!”

Để hiểu rõ hơn về ông, xin mời theo dõi các bài phỏng vấn sau đây:

1. Nghe RFA phỏng vấn Nhạc sỹ Tô Hải:



2. Bài phỏng vấn Nhạc sỹ Tô Hải trên BBC:

Đó là cuốn 'Hồi ký một thằng hèn' của nhạc sỹ Tô Hải, nói về cuộc sống và hoàn cảnh sáng tác cùng cực của văn nghệ sỹ miền Bắc thời kỳ trước 1975.

Nhạc sỹ Tô Hải năm nay 83 tuổi, là tác giả một số tác phẩm giao hưởng - hợp xướng và bài hát nổi tiếng. Ông đã nói chuyện với BBC về cuốn hồi ký mà ông nói là hoàn thành từ năm 2007:

Nhạc sỹ Tô Hải: Tôi viết hồi ký này từ năm 2000, hoàn thành 2007. Lúc ấy tôi có ý định là tới 2010 mới xuất bản vì nghĩ nếu cuốn sách tung ra sẽ gây lôi thôi. Nhưng nói thực, bây giờ nhiều người viết còn 'ghê' hơn tôi.

Nên tôi mới bảo mình: Chả lẽ cứ hèn mãi như thế này? Trong cuốn sách có một chương tựa đề 'Tôi đã hết hèn', thế nhưng mà sự thực thì sao?

BBC: Chính xác bao giờ cuốn sách sẽ xuất bản, thưa ông?

Nhạc sỹ Tô Hải: Tôi được nhà xuất bản (Tiếng Quê Hương, California, Hoa Kỳ) cho biết là trong khoảng từ 5-10 tháng Năm.

BBC: Thưa ông, từ 'hèn' tới 'hết hèn' là cả một quãng đường dài. Lúc nào thì ông cảm thấy mình đã 'hết hèn'?

Nhạc sỹ Tô Hải: Ngay từ khi tôi mới vào Sài Gòn này, khi tôi thấy là cái gọi là chủ nghĩa cộng sản chẳng có thật ở Việt Nam bao giờ.

Khi tôi vào Đảng, tôi nghĩ là để làm theo đúng những gì ông Marx, ông Lenin nói. Té ra là không phải. Anh lên nắm chính quyền, từ chính quyền xã, thì đều là "Mỗi người làm việc bằng hai, để ông chủ tịch mua đài mua xe".

Trong hồi ký tôi có viết một câu: "Sau cải cách ruộng đất tôi bỗng tỉnh người ra, té ra là chưa bao giờ có chủ nghĩa cộng sản thực sự".

Thế nhưng cuốn sách của tôi chủ yếu chỉ nói về các sai lầm, tội ác đối với văn nghệ thời xưa mà thôi. Như chúng tôi đã phải khổ, phải hèn như thế nào.

Thế nhưng cuốn sách của tôi chủ yếu chỉ nói về các sai lầm, tội ác đối với văn nghệ thời xưa mà thôi. Như chúng tôi đã phải khổ, phải hèn như thế nào.
(Tô Hải)
Ăn lương nhà nước mà không viết lách thì bị kiểm thảo, thậm chí viết những cái vô thưởng vô phạt mà người ta còn bắt bẻ.

Những cái đó bây giờ các ông lãnh đạo ngày hôm nay đã sửa rồi, đã cho phục hồi Tự lực Văn đoàn, tặng giải thưởng cho Nhân văn Giai phẩm, cho tái bản Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi, Trần Dần, đã cho đặt Lê Đạt vào nhà tang lễ của nhà nước.

Các ông ấy đang sửa, chỉ có điều các ông ấy chưa công bố chính thức, chưa xin lỗi đồng bào.

Mà tôi nghĩ các ông ấy bây giờ cũng không phải cộng sản như kiểu Karl Marx, Lenin-Stalin nữa.

BBC: Ông có nói về thời kỳ đau thương của văn nghệ Việt Nam, khi mà gần như ai cũng bị buộc phải 'hèn'. Nhưng ông đã ra khỏi quân đội, xin ra khỏi Đảng. Vậy đó có thể gọi là 'hèn' được hay không?

Nhạc sỹ Tô Hải: Tôi là cái loại 'hèn anh hùng' (cười).

Tại vì tôi hèn nhưng không chịu tiếp tục hèn. Nếu tôi cứ hèn mãi thì khi ra quân đội, tôi cũng có chức vụ tối thiểu là đại tá, cũng giải thưởng này nọ. Nhưng tôi bỏ tất.

Tôi về hưu non, tôi không bao giờ đặt bút viết cái gì nữa cả.

Khổ cái là, cái nghề của bọn tôi không thể viết âm nhạc chửi bới, không viết kiểu ông Tú Mỡ được.

BBC: Thưa, ông nghĩ người ta sẽ đón nhận hồi ký của ông như thế nào ạ?

Nhạc sỹ Tô Hải: Tôi chỉ mong để lại cho con cháu, thế hệ sau biết là cha ông chúng nó đã phải sống một cuộc đời hèn hạ như thế đấy.

Tôi có viết một chương rất đau khổ là: chẳng qua chỉ vì miếng ăn. Vợ con lơ mơ là nó cho chết đói, nó đuổi mình ra khỏi biên chế, cắt sổ gạo, không cho sáng tác, thế là khổ thôi.

Tôi tảo hôn, năm 23 tuổi, đến khi hòa bình lập lại ở miền Bắc thì tôi đã có ba con, chẳng lẽ để chúng nó chết đói? Thế là phải hèn.

Đưa người ta vào chỗ hèn hạ như vậy là chính sách của những tay lãnh đạo cũ.

Cuốn sách của tôi chỉ là nói những gì người ta biết cả rồi. Nhưng đối với thế hệ trẻ, hay những người ở miền Nam, thì có thể người ta không tưởng tượng nổi.

BBC: Ông có quan ngại sẽ gặp rắc rối gì khi cuốn sách ra đời không, thưa ông?

Nhạc sỹ Tô Hải: Tôi đã chuẩn bị cả rồi, cho cả vợ con nữa. Gia đình mới của tôi chỉ có bà vợ với đứa con. Bà ấy bán bán mì ở đầu đường thì cùng lắm là bị cấm bán. Còn tôi, thì tôi sẵn sàng thôi. Mà tôi viết cũng chưa ăn thua gì so với nhiều người.

3. Bài phỏng vấn Nhạc sỹ Tô Hải trên báo Người Việt:

Người Việt: Thông thường, khi viết hồi ký, người ta có thói quen nói tốt về mình; riêng ông, ông lại viết rằng, đây là Hồi Ký Của Một Thằng Hèn; tại sao ạ?

Nhạc sĩ Tô Hải: Cuốn hồi ký này, chủ yếu tôi chỉ viết về sự hèn của tôi thôi. Hèn của tôi vì sống trong một xã hội mà suốt cả cuộc đời mình - cho tới khi về hưu - tôi mới dứt ra được. Trước kia, ăn lương của đảng và nhà nước, mình cứ phải viết những điều mình không muốn viết để tồn tại. Tôi cũng giống rất nhiều anh em khác, cuối đời mới thấy mình cần phải soi lại mình. Hành động soi lại mình này tôi đã làm từ 15-20 năm nay nhưng tôi không dám đưa ra ở trong nước, cho nên phải đưa ra ở ngoài nước. Nếu tại Việt Nam được tự do sáng tác, tự do xuất bản thì tôi in ở trong nước chứ tôi đâu phải đưa ra ngoài. Tới hôm nay, sách chưa ra mắt độc giả mà báo chí tại Việt Nam đã chửi tôi rồi. (Ho sù sụ). Tôi xin lỗi dạo này tôi hơi yếu nên hay ho và nói năng không lưu loát.

Người Việt: Ðọc hồi ký của ông, độc giả thấy ông vào lúc tròn đôi mươi đã nhìn lá cờ đỏ sao vàng như biểu tượng niềm tin của dân tộc, nhưng sau này ông nói rằng, cụ thân sinh ra ông từng bảo ông rằng “theo Cộng Sản mà thất bại trở về thì cụ thân sinh ra ông sẽ tống ra ngoài cửa”. Hẳn rằng lúc bấy giờ, cụ thân sinh ra ông đã ý thức được sự tác hại của Cộng Sản đối với đất nước?

Tô Hải thời còn trẻ
Nhạc sĩ Tô Hải: Bố tôi lúc bấy giờ làm trong ngành bưu điện, nên ông có nhiều sách báo ở bên Tây gửi sang thành ra ông đọc được nhiều và tôi cũng đọc theo. Hai bố con chúng tôi có hai quan điểm rất đối lập nhau. Lúc bấy giờ, không chỉ riêng tôi, mà cả Vua Bảo Ðại và các nhà cách mạng lão thành cũng đều thấy cái ông Nguyễn Ái Quốc sau đổi tên thành Hồ Chí Minh là người yêu nước chứ chẳng phải là Cộng Sản gì cả. Nhất là ông Hồ lại còn giải tán Ðảng Cộng Sản Ðông Dương và thành lập Chính phủ Liên hiệp với sự tham gia của nhiều người không Cộng Sản. Bố tôi thì bảo “mày bị lừa” và cũng chính câu nói của ông bố tôi đã đẩy tôi đi theo ngọn cờ đỏ sao vàng. Nói thật, đó là tự ái của tôi lúc bấy giờ mới 18 tuổi. Thế cho nên tôi tiếp tục theo Cộng Sản. Cho tới thời kỳ Cải cách Ruộng đất thì tôi vỡ mộng và tôi bắt đầu viết, nhưng viết một nửa để kiếm tiền nuôi vợ nuôi con, còn một nửa viết những tác phẩm tiêng cho tôi. Những tác phẩm viết để kiếm ăn, toàn bộ chỉ là một mớ táp nham mà thôi chứ chẳng có chút giá trị nào về văn học nghệ thuật. Mãi tới bây giờ, khi viết Hồi Ký Một Thằng Hèn, tôi mới sống thật, viết thật, để cho độc giả và con cháu thấy rằng có một thời, văn nghệ sĩ chúng tôi đã góp tay vào những chính sách có tội như vụ Cải cách Ruộng đất gây nên chết chóc. Tôi viết không phải để mong trở thành nhà văn mà chỉ mong bạn bè, con cháu biết rằng cuộc đời của chúng tôi nó đau khổ như thế đấy khi phải sáng tác theo chỉ thị.

Người Việt: Trong chiến tranh, ông ở ngoài Bắc, gia đình ông di cư vào Nam và ông có một người em rể là Trung Tướng Lâm Quang Thi của Việt Nam Cộng Hòa; khi chiến tranh chấm dứt năm 1975, ông nhìn xã hội miền Nam ra sao ạ?

Nhạc sĩ Tô Hải: Trên blog của tôi, tôi đã bớt hèn để bộc lộ tâm trạng của mình trong bài viết “Ði Thăm Giàu Hỏi Sướng.” Tôi vào Sài Gòn sau năm 1975, cả gia đình tôi đã đi Mỹ, y như tôi về Hà Nội năm 54, cả gia đình lúc bấy giờ đã di cư vào Nam. Tôi không đến nỗi như cô Dương Thu Hương khi vào Sài Gòn thấy mình bị lừa nên ngồi xuống lề đường bật khóc; mà tôi đã biết trước đây không phải là một cuộc chiến tranh chống xâm lược như thời chống Pháp, và xã hội miền Nam không như đảng tuyên truyền là bị o ép, nghèo khổ, cho nên khi vào Sài Gòn, biết gia đình đã đi Mỹ, tôi mừng quá. Vừa nhớ thương bố mẹ, anh em, nhưng tôi mừng vô cùng thấy cả nhà đã đi thoát. Nếu ở lại thì đi tù “mút mùa” (sic). Không phải riêng tôi, nhiều anh em khác ở ngoài Bắc vào cũng mang tâm trạng như thế. Tôi thấy xã hội miền Nam rất tự do, tôi thấy lối sống tự do của anh em cầm bút trong Nam mà thèm quá. Các ông nhà văn miền Nam lúc nào cũng đàng hoàng, hoàn toàn tự do sáng tác không cần phải phục vụ ai; dân chúng sống thoải mái, buôn bán tự do, hàng hóa đầy đường; dân chúng nông thôn tha hồ chim trên trời, cá dưới nước, chẳng bao giờ phải lo lắng như dân miền Bắc.

Tôi vui khi thấy miền Nam như thế nhưng lo vì sợ đảng và nhà nước lại làm cải cách ruộng đất, lại tiến hành đấu tố, lại làm các thứ khác... thì khổ cho dân miền Nam. Nhưng may là những gì miền Bắc từng chịu đựng thì miền Nam chỉ gánh chịu một nửa thôi. Tôi nói một nửa vì cũng có cải tạo công thương nghiệp, cũng bắt dân đi kinh tế mới, nhưng không bị cảnh chết người, vợ chồng con cái anh em đấu tố nhau như ngoài Bắc. Cho nên có một số người miền Nam cứ ghét chung người miền Bắc thì tôi cho đó là một sự sai lầm, vì ngoài Bắc chịu ách Cộng Sản kinh khiếp hơn dân miền Nam nhiều. Dân Bắc khổ, khổ cả tinh thần lẫn vật chất, khổ không còn bút mực nào tả xiết. Vì có kinh nghiệm với Cộng Sản, nên khi một số anh em đến thăm tôi sau 75 như Phạm Ðình Chương, tôi bảo anh ấy tìm đường đi đi. Tôi khuyến khích tất cả bà con họ hàng anh em ai có cơ hội thì nên vượt biên hết đi.

Người Việt: Khi tự nhận mình hèn, hẳn rằng ông đã phải can đảm lắm để vượt thoát khỏi nỗi lo sợ đè năng tâm hồn ông từ hơn nửa thế kỷ qua?

Không thể giải quyết được chế độ hiện nay nếu dân tộc ta cứ hèn như thế này. Cái hèn của người dân nếu có đáng trách, đáng chê một, thì cái hèn của người cầm bút đáng tội gấp một trăm lần. Vì người cầm bút là kỹ sư tâm hồn, chuyên đi gieo rắc những tư tưởng, những tình cảm cho con người, mà họ lại không dám nói ra những điều họ nghĩ, thì tội đó to lắm.
(Tô Hải)

Nhạc sĩ Tô Hải: Không thể giải quyết được chế độ hiện nay nếu dân tộc ta cứ hèn như thế này. Cái hèn của người dân nếu có đáng trách, đáng chê một, thì cái hèn của người cầm bút đáng tội gấp một trăm lần. Vì người cầm bút là kỹ sư tâm hồn, chuyên đi gieo rắc những tư tưởng, những tình cảm cho con người, mà họ lại không dám nói ra những điều họ nghĩ, thì tội đó to lắm.

Hiện nay, khi ngồi ở quán nước trò chuyện với nhau, ai cũng hăng hái phê phán chế độ. Kể cả các tướng tá trong quân đội cũng hăng như thế. Nhưng chả ai dám nói công khai cả. Cũng có một số người như Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Ðài... đã can đảm lên tiếng và đang trả giá bằng những năm tháng tù đầy. Tôi hoàn toàn bái phục những người trẻ này. Còn nói chung, dân tộc Việt Nam đã lâu bị chuyên chính vô sản kềm hãm, mà giới lãnh đạo chế độ hiện nay vẫn cứ cố bám địa vị bằng chiêu bài vô sản nhưng thực chất là họ làm kinh tế tư bản. Vậy mà mấy ai dám lên tiếng. Thái độ ngậm miệng đó khiến tôi rất thất vọng. Thành ra tôi viết hồi ký và tự nhận mình là thằng hèn để thoát khỏi thái độ hèn trong tôi từ bao năm qua. Nhưng để đi đến kết quả Việt Nam có dân chủ, tự do thì phải làm cái gì hơn, chứ chỉ viết hồi ký như tôi thì cũng không đi đến đâu. Cuốn hồi ký của tôi chỉ làm một việc là vạch mặt những bóng tối vẫn còn đang trùm phủ Việt Nam, và tôi chỉ làm được như thế thôi.

Người Việt: Làm cách nào dân tộc mình thoát khỏi nỗi sợ hãi đã đè nặng từ ngày cộng sản cướp chính quyền vào mùa Thu 1945, thưa ông?

Nhạc sĩ Tô Hải: Tôi chỉ thấy hầu hết người ta lúc sống thì nghĩ một đằng, nói một nẻo. Nhiều người chết rồi mới dám công bố những suy nghĩ thật của mình, tỷ như nhà văn Nguyễn Khải, nhà thơ Chế Lan Viên. Văn nghệ sĩ còn thế huống hồ dân chúng. Cũng phải nói là có vài người dám viết, dám nói lúc còn sống như Hoàng Minh Tường viết cuốn Thời Của Thánh Thần; Ðào Hiếu viết Lạc Ðường... nhưng số này không nhiều lắm, nên tôi chưa thấy cách nào để toàn dân thoát khỏi nỗi sợ hãi để tìm lối thoát chung của đất nước.

Hình bìa cuốn hồi ký

Người Việt: Câu chót xin phỏng vấn ông, ông có tâm sự gì muốn nói thêm với độc giả Người Việt không ạ?

Nhạc sĩ Tô Hải: Tôi chỉ mong một điều, là đồng bào hải ngoại luôn luôn phải cảnh giác những lời lẽ của nhà nước cộng sản. Họ “nói vậy mà không phải vậy” (sic). Họ hôm nay nói thế này, mai họ lại nói khác. Ðồng bào trong nước biết rất rõ thái độ đó của nhà nước. Tôi luôn nghĩ rằng, Tổ quốc là của chung, không của riêng ai cả. Chúng ta không thể để cho một nhóm, một đảng phái nào muốn làm gì thì làm. Tôi ước mong rằng đồng bào ở ngoài nước, đừng vì những hiềm khích, những khác biệt trong phương pháp, mà chia rẽ nhau để rồi quên đi mục đích chung là đấu tranh cho một đất nước Việt Nam có tương lai tốt đẹp. Chúng ta phải tin tưởng một ngày nào đó chưa định trước được, đất nước của chúng mình sẽ thay đổi, Tổ quốc chúng ta Bắc-Trung-Nam sẽ hòa hợp cùng vui ngày vui đó.

Người Việt: Cám ơn nhạc sĩ Tô Hải đã trả lời phỏng vấn của chúng tôi.

4. Nguyễn Nam Phong (Diễn đàn Tiếng nói Tự do của người dân Việt Nam) phỏng vấn Nhạc sỹ Tô Hải:
















-----------------------------
Nhạc khúc Nụ cười sơn cước do ca sỹ Sĩ Phú trình bày:


Nhạc khúc Nụ cười sơn cước do ca sỹ Ánh Tuyết trình bày:



-----------------------------
Địa chỉ mua sách:

Tiếng Quê Hương
P.O. Box 4653 - Falls Church, VA 22044

Email:info@tiengquehuong.com

.
Đọc tiếp...

Hai mươi năm...

Hai mươi năm, giật mình nhìn lại
Bên trời Âu gió đã xoay chiều
Cờ tự trị dựng khắp liên bang
Thời Xô-viết lặn vào quên lãng

Có những nỗi đau trải dài theo năm tháng
Có những con đường máu đỏ thênh thang...

Tường Bá Linh nay đã hạ màn
Đâu ai ngỡ hôm qua còn nhuốm đỏ
Những tai ương, khốn khó cùng đường
Dân Đông Đức oằn mình rên xiết

. . .

Hai mươi năm!
Người dân Việt còn loay hoay định hướng
Đi về đâu?
- Theo Đế quốc "ôm chân"?
- Hay Tư bản đỏ mại dân nhục quốc?

Tư tưởng Hồ là Mác-Lê ngày cũ
Dựng niềm tin trên cát rỗng cành khô
Dân bị gạt đứng giữa ngã ba đường
Quan thả sức vơ theo dòng nhũng lạm

Xuyên màn đêm!
Trí thức suy tư tìm đường cải hoán
Tư tưởng Tự do - leo tường mà đọc
Triết lý Dân sinh - luồn lách mà ghi

"Ngôn luận Tự do", căng vải để chào mừng!
Báo giới bị lùa bước 1, 2... theo "lề phải"
Như bầy cừu non, ngơ ngác hỏi: - Tự do đâu?
Sao chỉ thấy ngục tù, cảnh cáo, bao vây?

Bảy trăm cơ quan "chính thống" - ngại gì tiếng nói một kỹ sư?
Mười lăm ngàn nhà báo đeo bằng - há sợ chị nhà văn nói thẳng?
Thế phải dùng hạ sách phân tươi trộn dầu loang bỉ ổi!
Thế đành cho người ngăn sứ giả phương xa, càng lộ rõ mưu mô bưng bít!

Cứ lớn tiếng: - Nào diệt trừ tham nhũng
Ô là la, sao không đào tận gốc
Hay còn mơ vô sản chốn đại đồng?
Hay không biết gốc ấy là: độc đảng?

Rồi kêu gào: - Nào giáo dục canh tân
Ôi mai mỉa, lại bắt đầu từ ngọn!
Sản phẩm con người được đón nhận ra sao?
Khi đạo nghĩa lép vế kim tiền!
Khi năng lực xếp sau bằng dỏm!

Giấy thô bọc lửa một bề
Lâu lại xịt khói nồng gian dối
Đây lịch sử anh hùng Lê Văn (8) giảo
Kìa công hàm nhượng đảo Tây Sa

Hoàng Sa đã mất - chứng cớ còn ghi năm tám anh hùng nghĩa sĩ
Trường Sa khắc khoải - bảy mươi người lính đảo vong thân
Cốt nhục cội nguồn chúng còn không chớp mắt
Thiết giáp, đạn chì chà nát dân lành không tấc sắt trong tay
Thiên An Môn hai mươi năm còn tanh vết máu
Gương tày liếp còn nguyên hình ác quỷ

Bài học xưa "Ngựa thành Troia" hỗn chiến
Nay niềm tin trao kẻ cướp bạo tàn:
Tây nguyên gạ bán
Một ngày kia nô lệ mút mùa!

Vì lợi ích độc quyền cai trị
Bưng tai ni bịt tiếng nói dân quyền
Không nhận chân Sự Thật từ bao đời bất diệt
Quên cả lời bia miệng ngàn năm


Tháng 5/2009,
(Viết sau khi đọc Tạp chí đặc biệt[*] Kỷ niệm 20 năm CNCS sụp đổ)

-------------------------------------
[*] Đăng nhiều kỳ trên RFI:
- Kỳ I
- Kỳ II
- Kỳ III
- Kỳ IV
- Kỳ V
- Kỳ VI
- Kỳ VII
- Kỳ VIII
- Kỳ IX

.

Đọc tiếp...

Sự trơ trẽn của một diễn đàn "toán học"

Hôm nay có một nick nặc danh vô còm-mên cho bài Câu đối của mình từ trước tết. Xem lại nguồn dẫn từ một entry trên ddth.com thì phát hiện ra cái trơ trẽn, dối trá của diễn đàn mathvn.com.

Bài viết về câu đối của mình gửi cho DCVOnline đăng từ ngày 25/12/2008:
Năm mới, thi văn và toán học

Đến ngày 25/1/2009, mathvn.com thêm mắm muối, xào nấu và đăng lại như sau:
30 Tết nói chuyện Câu đối và Toán học


Copy 1 phần bài viết của người khác cũng được, chỉ cần ghi rõ nguồn. Phần quan trọng nhất của bài viết là Công thức tạm tính độ khó cho vế đối, phần còn lại chỉ nêu định nghĩa thế nào là vế đối, trích dẫn các câu đối từ xưa đến nay... chẳng có gì đáng nói. Thế mà khi copy lại không tôn trọng. Tác giả chỉ dám dè dặt "Thử đề ra công thức đo độ khó" còn kẻ chôm lại thì ngang nhiên khẳng định "Công thức đo độ khó của vế đối"!!! Thật quá hợm hĩnh và chủ quan!

Lại thêm cái bệnh copy của học trò ấu trĩ: Sao chép mà chả hiểu ý nghĩa quái gì cả. Trong ví dụ 1, phần ghi chú (2) mình dẫn ra câu "Quạ vàng đội kim ô" để minh họa cho việc vi phạm luật số 3 (từ láy). Khi copy lại, có lẽ muốn làm cho nó khác với nguyên bản, thay đổi đi thành ra cái ví dụ 1 trở thành vô duyên, chả minh họa được gì cho luật số 3 cả!

Lược bỏ ví dụ số 3 (Câu đối của tiên sinh Hà Sỹ Phu) cũng được, đó quyền khi trích dẫn. Nhưng qua đó, ta cũng phần nào đoán được đây là thành phần ôm sát "lề phải"!

Tệ hơn cả là thái độ không biết phục thiện, có người nhắc nhở không chịu cám ơn, sửa lỗi lại còn trân tráo: "Thế giới chia sẻ nên chưa biết ai copy của ai??!!"
Tôi là tác giả của công thức này, cho dù chỉ có ý nghĩa giải trí trong văn học, tôi khẳng định: Diễn đàn Mathvn.com đã ĂN CẮP công thức của tôi !

Xã hội này không gọi là khốn nạn, đảo điên thì là gì hả ông CA đã thẩm vấn tôi hồi tháng 4/2008 ???

.

Đọc tiếp...

Một bài thơ chưa từng công bố

Đỗ Trung Quân, tác giả bài thơ nổi tiếng Quê Hương vừa công bố bài Tạ lỗi Trường Sơn viết từ năm 27 tuổi (1982). Đã 27 năm qua rồi đến nay mới dám công khai, đủ biết cái "tự do ngôn luận" của nhà nước XHCN nó "ưu việt" như thế nào !

Đã 34 năm trôi qua. Hòa bình cũng dài ngang bằng cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trong lịch sử. Chưa có cuộc chiến nào ám ảnh một dân tộc cho bằng cuộc chiến tranh này, nó thay đổi hình thái xã hội, thay đổi số phận con người.

Công bố bài thơ viết năm 27 tuổi, bảy năm sau hòa bình (1982) - nay nhìn lại, tôi cũng không hiểu điều gì đã dẫn dắt cho những dòng chữ này. Khi làm xong nghĩa vụ một thanh niên thời hậu chiến, người có lý lịch may mắn không vướng phải chuyện lính tráng dù thế hệ tôi sau “mùa hè đỏ lửa 1972” hầu hết cũng đã “yên vị” khói hương trên bàn thờ gia đình.

Còn nhớ những năm của thập niên 80, giáo sư Nguyễn Khắc Viện viết một bài đanh thép trên báo Sài Gòn Giải Phóng “Sen hay Bùn” về danh xưng khi nào thì gọi là thành phố Hồ Chí Minh, khi nào thì gọi là Sài Gòn? và ông khẳng định cái tốt thì gọi tp HCM, cái tệ nạn, cái xấu, cái "tồn đọng" thì gọi là Sài Gòn.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Lan đã đối thoại bằng một bài báo khác (tất nhiên ông không thể đăng bài phản biện ấy trên báo SGGP như trong một xã hội bình thường), ông nhắc rằng hiện tại sau 10 năm giải phóng, thành phố vẫn còn một tờ báo lớn tiếng nói chính thức của “Đảng bộ và nhân dân thành phố” tờ Sài Gòn Giải Phóng (nó vẫn còn đến tận hôm nay), còn một nhà máy thuốc lá Sài Gòn, còn một đội bóng danh tiếng mang tên Cảng Sài Gòn (nay đã không còn)… Bài thơ này, có lẽ là cái nhìn đau đớn đầu tiên của một người trẻ tuổi vừa từ chiến trường K trở về với bao nhiêu hoài bão sau khi chứng kiến những hy sinh cao đẹp của một thế hệ thanh niên Sài Gòn, những con người thành phố tuổi chỉ mới đôi mươi…

Hai mươi bảy tuổi và một bài thơ dài nhất của đời mình...

Đỗ Trung Quân
(Blog Chung Do Kwan)



TẠ LỖI TRƯỜNG SƠN
(1982)

1.

Một ngàn chín trăm bảy mươi lăm
Các anh từ Bắc vào Nam
Cuộc trường chinh 30 năm dằng dặc
Các anh đến
Và nhìn Sài Gòn như thủ đô của rác
Của xì ke, gái điếm, cao bồi
Của tình dục, ăn chơi
“Hiện sinh - buồn nôn - phi lý!!!”

Các anh bảo con trai Sài Gòn không lưu manh cũng lính ngụy
Con gái Sài Gòn không tiểu thư khuê các, cũng đĩ điếm giang hồ
Các anh bảo Sài Gòn là trang sách “hư vô”
Văn hóa lai căng không cội nguồn dân tộc
Ngòi bút các anh thay súng
Bắn điên cuồng vào tủ lạnh, ti vi
Vào những đồ tiêu dùng mang nhãn Hoa Kỳ
Các anh hằn học với mọi tiện nghi tư bản
Các anh bảo tuổi trẻ Sài Gòn là “thú hoang” nổi loạn
Là thiêu thân ủy mị, yếu hèn
Các anh hùa nhau lập tòa án bằng văn chương
Mang tuổi trẻ Sài Gòn ra trước vành móng ngựa!!!

2.

Tội nghiệp Sài Gòn quá thể
Tội nghiệp chiếc cầu Công Lý
Có anh thợ điện ra đi không về
Tội nghiệp những “bà mẹ Bàn Cờ” của những ngày chống Mỹ
Lửa khói vỉa hè nám cả những hàng me
Tội nghiệp những người Sài Gòn đi xa
Đi từ tuổi hai mươi
Nhận hoang đảo tù đày để nói về lòng ái quốc

Có ai hỏi những hàng dương xanh
Xem đã bao nhiêu người Sài Gòn hóa thân vào sóng nước
Tội nghiệp nhưng đêm Sài Gòn đốt đuốc
Những “người cha bến tàu” xuống đường với bao tử trống không
Tội nghiệp những ông cha rời khỏi nhà dòng
Áo chùng đen đẫm máu
Tội nghiệp những chiến trường văn chương, thi ca, sách báo
Những vị giáo sư trên bục giảng đường
Ưu tư nhìn học trò mình nhiễm độc

Sài Gòn của tôi - của chúng ta.
Có tiếng cười
Và tiếng khóc

3.

Bảy năm qua đi với nhiều buồn vui đau xót
Một góc phù hoa ngày cũ qua rồi
Những con điếm xưa có kẻ đã trở lại làm người giã từ ghế đá công viên để sống đời lương thiện
Những gã du đãng giang hồ cũng khoác áo thanh niên xung phong lên rừng xuống biển
Tìm lại hồn nhiên cho cuộc sống của mình
Cuộc đổi thay nào cũng nhiều mất mát, hy sinh…

4.

Và khi ấy
Thì chính “các anh”
Những người nhân danh Hà Nội
Các anh đang ngồi giữa Sài Gòn bắt đầu chửi bới
Chửi đã đời
Chửi hả hê
Chửi vào tên những làng quê ghi trong lý lịch của chính mình
Các anh những người nhân danh Hà Nội sợ đến tái xanh
Khi có ai nói bây giờ về lại Bắc!!!
Tội nghiệp những bà mẹ già miền Bắc
Những bà mẹ mấy mươi năm còng lưng trên đê chống lụt
Những bà mẹ làm ra hạt lúa
Những năm thất mùa phải chống gậy ăn xin
Những bà mẹ tự nhận phần mình tối tăm
Để những đứa con lớn lên có cái nhìn và trái tim trong sạch

Bây giờ
Những đứa con đang tự nhận mình “trong sạch”
Đang nói về quê mẹ của mình như kẻ ngoại nhân
Các anh
Đang ngồi giữa Sài Gòn nhịp chân
Đã bờm xờm râu tóc, cũng quần jean xắn gấu
Cũng phanh ngực áo, cũng xỏ dép sa bô
Các anh cũng chạy bấn người đi lùng kiếm tủ lạnh, ti-vi, cassette, radio…

Bia ôm và gái
Các anh ngông nghênh tuyên ngôn “khôn & dại”
Các anh bắt đầu triết lý “sống ở đời”
Các anh cũng chạy đứt hơi
Rượt bắt và trùm kín đầu những rác rưởi Sài Gòn thời quá khứ

Sài Gòn 1982 lẽ nào…
Lại bắt đầu ghẻ lở?

5.

Tội nghiệp em
Tội nghiệp anh
Tội nghiệp chúng ta những người thành phố
Những ai ngổn ngang quá khứ của mình
Những ai đang cố tẩy rửa “lý lịch đen”
Để tìm chỗ định cư tâm hồn bằng mồ hôi chân thật

6.

Xin ngả nón chào các ngài
“Quan toà trong sạch”
Xin các ngài cứ bình thản ăn chơi
Bình thản đổi thay lốt cũ
Hãy để yên cho hàng me Sài Gòn
Hồn nhiên xanh muôn thưở
Để yên cho xương rồng, gai góc
Chân thật nở hoa

Này đây!
Xin đổi chỗ không kỳ kèo cho các ngài cái quá khứ ngày xưa
Nơi một góc (chỉ một góc thôi)
Sài Gòn bầy hầy, ghẻ lở

Bây giờ…
Tin chắc rằng trong các ngài đã vô số kẻ tin vào
“thượng đế”
Khi sống hả hê giữa một thiên đường
Ai bây giờ
Sẽ
Tạ lỗi
Với Trường Sơn?

Đỗ Trung Quân (1982)


__________________________

(*)Năm 1995, Nhà xuất bản Trình Bày có ý định in bài thơ này với cái tên tác giả
“Chung Do Kwan” trong phần “thơ dịch”. Sự cân nhắc này là nhã ý của nhà Trình Bày khi biết tác giả thật sự vẫn còn đang sống ở VN. Cũng từ đó cái tên Chung Do Kwan ra đời với tinh thần (ngỡ như) hài hước (“phiên âm” từ tên tác giả). Nó không liên quan gì đến tay độc tài quân phiệt Chung Do Kwan trong thập niên 60-70.

.
Đọc tiếp...

Hiện tượng hồi ký và ngụy biện "lề phải"

Gần đây, cư dân mạng liên tục chứng kiến nhiều vụ việc đình đám, cụ thể là chuyện xuất hiện ngày càng nhiều các hồi ký, tự truyện của những người "trong cuộc".
Tạm gọi "trong cuộc" vì các đối tượng này hầu hết là những người đang (hoặc đã từng) đứng trong hàng ngũ của đảng Cộng sản Việt nam.
Chính vì ở vào vị trí đặc biệt đó, câu chuyện của họ càng có trọng lượng. Vì sao? Nguyên thủ Hoa kỳ, danh nhân thế giới... viết hồi ký cũng không cuốn hút dân Việt đến vậy?
Có gì bí mật, kỳ thú trong những điều được bày tỏ?

Chỉ đơn giản là sự thật. Rất nhiều sự thật, gần gũi đến hiển nhiên, nhưng từ bấy lâu nó đã nghiễm nhiên trở thành thứ bí mật ghê gớm. Nó tựa như chuyện "phạm húy" trong thời phong kiến khi ai đó vô tình nói hoặc viết những từ gần giống với tên vua, tên hoàng hậu.
Chỉ khác là chuyện "phạm húy" nghe có vẻ nực cười vì nó gần như vô hại đối với vua chúa, còn chuyện "lề trái" có lẽ nghiêm trọng hơn vì phơi bày sự thật sẽ đụng chạm đến quyền lợi của một nhóm người đang nắm quyền sinh sát của nhiều người khác. Sự vi phạm này trước đây có thể ví với luật im lặng trong các băng đảng mafia. Bởi lẽ, vi phạm đồng nghĩa với việc đối mặt với sự sống còn, với sinh mạng của những người có liên quan. Chính vì cái luật im lặng đáng sợ đó, hàng triệu triệu tiếng nói ngay thẳng, xuất phát tự đáy lòng đã phải ngậm ngùi chôn theo bụi thời gian. Ẩn giấu sự thật để mưu sự sanh tồn, âu cũng là điều mai mỉa chua chát cho phận làm người!
Những suy nghĩ sau đây có lẽ đã tồn tại trong đầu không ít đảng viên cộng sản, nhưng ít người dám bày tỏ tường minh như cố trung tướng Trần Độ đã viết trong Nhật ký Rồng Rắn:

Bộ máy quản lý xã hội thực hiện một nguyên tắc chuyên chính tàn bạo hơn tất cả các thứ chuyên chính.
Đó là chuyên chính tư tưởng, sự chuyên chính tư tưởng được thực hiện bởi một đội ngũ nòng cốt là những “lưu manh tư tưởng”. Chuyên chính tư tưởng định ra những điều luật tàn khốc để bóp nghẹt mọi suy nghĩ, mọi tiếng nói … Những điều luật quy vào các tội: có hại cho lợi ích cách mạng, không lợi cho sự nghiệp cách mạng, nói xấu chế độ, nói xấu lãnh đạo vv… để đàn áp tàn khốc mọi tiếng nói.
Nền chuyên chính tư tưởng này đang làm cho tất cả trí thức không dám suy nghĩ gì, hoặc ít nhất cũng không muốn suy nghĩ gì, nói năng gì. Thực ra, nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, ra sức nô dịch toàn bộ tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trở thành những con rối chỉ biết nhai như vẹt các nguyên lý bảo thủ, giáo điều. Nó làm cho nền giáo dục khô cứng, làm cho các hoạt động văn học nghệ thuật nghèo nàn, mất hết cơ hội sáng tạo và mất hết hào hứng, nó làm cho các hoạt động khoa học bị khô cứng và nô dịch.
Nó tạo ra và nó bắt buộc nhân dân phải có một tâm lý lệ thuộc, lệ thuộc vào nhà nước, lệ thuộc vào Đảng, lệ thuộc vào cán bộ, và một tâm lý phải tuân phục, kể cả người cao nhất cũng phải tuân phục một cái gì bí và hiểm.
Nền chuyên chính tư tưởng hiện nay ở Việt Nam là tổng hợp các tội ác ghê tởm của Tần Thuỷ Hoàng và các vua quan tàn bạo của Trung Quốc, cộng với tội ác của các chế độ phát xít, độc tài.
Nó tàn phá cả một dân tộc, huỷ hoại tinh anh của nhiều thế hệ.
Xét đến cùng, đó là tội nặng nhất về sự vi phạm nhân quyền. Vì không phải nó chỉ xâm phạm đến quyền sống cuả con người mà nó huỷ hoại cuộc sống rất nhiều người, đó là cuộc sống tinh thần, cuộc sống tư tưởng của cả dân tộc.
Nó đang làm hại cả một nòi giống.

Thần thánh hóa lãnh tụ để thao túng quyền lực tưởng chỉ có trong chế độ phong kiến. Sự thật, chủ nghĩa cộng sản còn lạm dụng nó nhiều hơn và tinh vi hơn. Những câu chuyện phóng đại, thổi phồng quá đáng, che giấu đời tư về HCM có lẽ không lạ gì trong xã hội VN mấy chục năm qua. Nhưng mô tả có vẻ chân thực thẳng thắn thế này thì rất hiếm, xin dẫn một đoạn trong cuốn hồi ký của Nguyễn Đăng Mạnh:
Một hôm được tin Hồ Chủ Tịch về Bắc Ninh. Tôi và mấy bạn học được nhà trường cử đi đón. Mỗi đứa được phát một lá cờ nhỏ bằng giấy, hễ Hồ Chủ Tịch đến thì vẫy cờ và hô khẩu hiệu chào mừng.
Chúng tôi đứng xếp hàng trước cửa phòng thông tin thị xã, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh tới.
Đợi một lúc thì có một chiếc xe ôtô con đỗ ngay mép đường, trước cửa phòng thông tin. Tôi thấy có hai anh cảnh vệ vọt ra trước, cầm lăm lăm tiểu liên, nhẩy lên đứng trên hai cái trụ của bức tường hoa thấp trước phòng thông tin. Hai anh lia mũi súng sang trái, sang phải, vẻ mặt căng thẳng.
Hồ Chí Minh bước ra sau. Quần áo kaki. Giầy vải. Cầm batoong. Người gầy, đen. Râu tóc cũng đen. Ông đứng lại ngay sát chúng tôi, nhưng không để ý gì đến bọn trẻ con này cả, tuy chúng tôi ra sức phất cờ và hô “Hồ chủ tịch muôn năm!”
Đứng lại một lát, liếc nhìn chung quanh một chút, mặt đầy cảnh giác, rồi ông đi rất nhanh vào phòng thông tin. Lưng rất thẳng, gầy nhưng cứng cáp, cử chỉ lanh lẹn – ấn tượng của tôi về Hồ Chí Minh là như thế.
. . .
Tôi nghĩ Hồ Chí Minh thực bụng, không hề coi mình là ông thánh, nghĩa là chỉ muốn được là người với những nhu cầu như của mọi người bình thường. Cũng có thể trong tư cách nhà chính trị lại khác. Vì nhu cầu chính trị, có khi Hồ Chí Minh cũng phải “diễn” những điều trái với bản chất của mình. Vì thế tôi nói, thực bụng ông Hồ không thích làm thánh nhân chút nào. Thí dụ, mệt cũng muốn nghỉ. Tố Hữu có lần đi với ông, thấy một khẩu hiệu trên tường: “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!”, ông nói: “Hồ Chí Minh chỉ muốn nằm!”
Ông Hồ cũng thích hút thuốc lá. Và chỉ quen hút thuốc lá ngoại, thuốc lá Mỹ. Ông đã bị chi bộ phê bình và bắt hút thuốc nội. Sau thấy ông ho quá, lại cho hút thuốc ngoại như cũ. Anh Hoàng Tuệ kể với tôi chuyện này: hồi kháng chiến chống Pháp, đi công tác ban đêm, tình cờ anh đi cùng với một đoàn người chở thuốc lá ngoại từ vùng tề ra cho cụ Hồ, có bộ đội đi kèm để bảo vệ.


Nỗi sợ hãi khi nói lên sự thật cứ đeo bám cuộc đời của những người đã trót theo con đường của đảng. Chưa biết sự thật trong hồi ký Tôi là một thằng hèn trần trụi đến đâu, chỉ biết tác giả của nó từng trăn trở như thế này:
Đây là cuốn hồi kí có tên là “Hồi kí của một thằng hèn” tớ viết từ những ngày mới về hưu, xa rời mọi quy định, mọi phán xét của mọi tổ chức. Tớ phải viết trong tình trạng khó khăn như thế nào thì hãy đọc bài giới thiệu của nhà báo Lê Phú Khải. “Viết thì cứ viết mà run thì cứ run”… cho nên khi hoàn thành vào năm 2007, cuốn hồi kí, trước khi gửi đi, đã được tớ bổ sung thêm một chương “Lời phi lộ viết sau cùng” vì lí do: khi đọc lại tớ vẫn thấy cuốn hồi kí còn sặc mùi “hèn”. Và thế là, tớ lại viết thêm một chương “Tôi đã hết hèn”. Cuốn hồi kí trong USB được một “đồng chí” cũ của tớ, khi nhân danh “khúc ruột ngàn dặm” trở về Tổ Quốc, mang sang Mỹ thì... quả thật tớ vẫn còn “sợ” nên dặn ông bạn: - Chờ đến khi tớ chết hãy cho ra mắt. Y như Nguyễn Khải mà tớ đã viết trong một entry trước là “chẳng thể nào đánh được một xác chết” nữa, nghĩa là: Nguyễn Khải chỉ dám “hết hèn” khi mình đã chết, đã hưởng đủ mọi quyền lợi không ai có thể đòi lại được nữa!

Phải thừa nhận văn minh đương đại với sự bùng nổ của IT và mạng lưới toàn cầu đã góp phần đáng kể vào việc truyền bá tư tưởng tự do.
Blog, website, email... truyền tải thông tin theo tốc độ sóng điện từ đã trở thành người bạn, người thầy, người hỗ trợ thân thiết cho các chiến sỹ tự do trên toàn cầu. Cuốn hồi ký Đối mặt của Vi Đức Hồi - từng là trưởng ban tuyên giáo, giám đốc trường đảng, thường vụ huyện ủy huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn - tuy chưa hoàn tất (hiện có 24 kỳ) nhưng đã được lưu hành trên Internet.

Song song với sự xuất hiện ngày càng nhiều các cuốn hồi ký tự truyện không ngại đề cập đến những chuyện được coi là "tế nhị", nhiều tờ báo cũng chấp nhận thương đau để bảo vệ sự trong sáng của nghiệp cầm bút. Nhà báo Nguyễn Việt Chiến, blogger Điếu Cày phải ngồi tù; một loạt báo thay tổng biên tập... gần đây nhất là vụ báo Du Lịch bị đình bản 3 tháng.

Xem ra cái "lề phải" không được tôn trọng lắm. Có điều gì nghịch lý chăng? Ở đời ai cũng chuộng công lý, lẽ phải, sao lắm người thích đi "lề trái" thế? Thời trung học, môn toán của tôi cũng thường thường không xuất sắc gì lắm. Nhưng tôi đặc biệt thích các loại toán vui, toán đố về thực tế, và loại toán chứng minh ngụy biện. Bài toán "lề phải" được chứng minh là ngụy biện như sau:
- Trong bối cảnh giao thông lộn xộn là thảm trạng của các đô thị lớn hiện nay, đưa ra lý thuyết "lề phải" nghe rất hợp lẽ, vì thiếu ý thức là một trong những nguyên nhân chính gây ùn tắc giao thông. Đây là thủ thuật đánh vào yếu tố tâm lý. Nhưng bình tâm lại, xét đoán một cách logic thì lý thuyết "lề phải" áp dụng vào đây được không? Lề phải chỉ có ý nghĩa khi đường lưu thông được hai chiều. Bạn thử chạy ngược xe vào đường một chiều rồi cãi với mọi người rằng mình đang đi bên phải xem sao! Rõ ràng, việc đề ra quy định "lề phải" cho báo chí trong xã hội độc tài cũng giống như việc cho tất cả các con đường trong thành phố lưu thông một chiều. Thử hình dung thực trạng sẽ ra sao?

Sự thật trong truyền thông cũng cần thiết như ánh nắng cho lá cây. Che chắn ánh sáng mặt trời không thể uốn nắn thân cây theo hình dạng mong muốn, ngoại trừ việc làm cho nó cằn cỗi đi.

.
Đọc tiếp...

Câu chuyện ngôn từ

Học ăn, học nói, học gói, học mở
Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

(Ca dao - Tục ngữ Việt Nam)

Tiếng nói, câu chữ đã song hành cùng nhân loại ngót hai mươi thế kỷ. Chừng ấy thời gian cũng chưa đủ để con người hài lòng với sự phát triển của ngôn từ. Và có lẽ, sẽ không bao giờ nhân loại tự thỏa mãn để thôi cải biến cái được mệnh danh là linh hồn trong giao tiếp xã hội.
Theo đà tiến hóa của lịch sử, ngôn từ dần dần được cải hóa sao cho phù hợp với tư duy và tâm lý của con người.

BẤT CẬP
Ngôn từ của mỗi dân tộc, dưới mỗi chính thể đều có phong thái và đặc thù riêng biệt. Nhất là dưới các chế độ độc tài, việc khống chế truyền thông và thông tin càng làm cho sự phát triển của ngôn từ bị gò theo một phạm vi chủ quan. Hơn ba mươi năm sống dưới chế độ này, tôi chợt nhận thấy việc sử dụng ngôn từ có quá nhiều bất cập.

Dài dòng lãng phí
- Một hôm, ngồi trên xe đang dừng chờ trước trạm thu phí giao thông, tôi bỗng có ý nghĩ ngồ ngộ là tiền đồng mất giá quá, làm các bảng điện tử phải tốn thêm chi phí cho 4 con số zero vô duyên. Trong các văn bản, sổ sách, giấy tờ... cũng vậy, việc đọc các món tiền hơi có giá trị một chút rất là mệt mỏi. Nhưng đó là chuyện kinh tế và lạm phát, trở lại vấn đề chính là chuyện lãng phí trong ngôn từ. Cái dài dòng lãng phí nhiều nhất là cái quốc hiệu hiện nay của nước mình. Trong tất cả các văn bản pháp quy đều phải có 2 dòng:

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Từ khi có máy vi tính, với chức năng copy-paste hoặc việc định nghĩa các khuôn mẫu (templates) thì vấn đề thời gian nhập liệu không đáng kể. Nhưng chi phí để đọc và in là không hề nhỏ. Viết ra thì phải có người đọc, tuy nhiên theo cảm nhận của cá nhân tôi hầu hết mọi người đều vô cảm với 2 dòng tiêu đề này. Theo tôi, trong đó chỉ có vỏn vẹn hai từ có giá trị là Việt Nam. Những từ còn lại hoặc dư thừa, hoặc không đúng ý nghĩa trên thực tế. Trong một văn bản thông dụng trung bình cỡ trang giấy A4 thì số ký tự cho những từ lãng phí này khoảng 5%. Ta làm một con tính nhỏ lấy giá tiền một 5% của hộp mực in Laser nhân với số văn bản thông dụng lưu hành trên cả nước sẽ cho một con số đáng kinh ngạc!

- Chuyến xe lại tiếp tục trên con đường liên tỉnh. Thấp thoáng những tấm bảng khổ lớn với dòng chữ: Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM. Câu này cũng được sơn trên các tấm biển lớn trong các cơ quan, trường học... Tôi tự hỏi "Học theo tấm gương đạo đức HCM" và "Học làm Người" như ông cha dạy dỗ bao đời nay có điều gì khác biệt chăng? Nếu có ai biết điểm ưu việt nổi bật nhất của tư tưởng và đạo đức HCM so với đạo làm Người từ xưa đến nay, xin vui lòng tóm tắt càng gọn càng tốt, tôi xin đa tạ. Thực tình là tôi cũng không biết, mà tìm thì chưa thấy.

- Thỉnh thoảng lại được nghe vài người nước ngoài khen rằng dân Việt Nam ta thông minh, cần cù chịu khó, đánh giặc mưu trí này nọ, cũng thấy ... nở mũi một tí. Nhưng chỉ một chút cho vui thôi, chứ nhìn lại thì trên tất cả các lãnh vực văn hóa, khoa học kỹ nghệ... mình chưa có gì đáng kể so với thế giới cả. Thế mà, lắm người cứ vênh vanh "đỉnh cao trí tuệ", nghe phát rợn người! Dân gian xưa có tục rất hay mà ta quen gọi là trộm vía. Thấy đứa trẻ bụ bẫm hoặc lanh lẹ hơn người thì họ cũng gọi trệch đi như là "xí quá", "kháu nhỉ"... tức là những từ rất dân dã ngắn gọn, có phần giảm nhẹ cái hay, cái tốt của nó như là sợ thói hợm hĩnh sớm lây vào người con trẻ!

Tránh xa sự thật
- Cái từ gây ấn tượng nhất cho tôi từ hồi thơ ấu là Việt cộng. Trước 1975, tôi chỉ mới học lớp 1 và được biết từ này khi TV chiếu những cảnh tổn thất do bị pháo kích, giật mìn... Sau 30/4/1975, tôi bước vào lớp 2 và bỗng dưng người lớn cấm ngặt không được nói đến từ này! Và ở tuổi đó, tôi chỉ biết là từ cấm kỵ như phạm húy vậy. Về sau mới biết đó là nói vắn tắt của cụm từ Cộng sản Việt Nam cũng như Trung cộng là Cộng sản Trung Quốc. Vậy có gì mà không được nói hả trời? Cách gọi vừa ngắn gọn vừa đúng sự thật như vậy sao lại cấm? Hay họ sợ nhận mình là người cộng sản? Sau này, tôi nhận ra còn rất nhiều cụm từ dở hơi, dài dòng, đi vòng qua sự thật như sau:

- Biểu tình thì lại gọi là khiếu kiện đông người. Cái này hoàn toàn sai về ngữ nghĩa. Khiếu kiện là hành vi ở mức độ thấp hơn, khi người ta ghi những bất công oan trái của mình ra giấy và yêu cầu luật pháp can thiệp. Biểu tình là hành vi bày tỏ quan điểm mạnh mẽ hơn, có biểu ngữ, có tụ tập và hô khẩu hiệu. Thường biểu tình thường chỉ xảy ra sau khi khiếu kiện không được giải quyết thỏa đáng.

- Bất đồng chính kiến thì gọi là tuyên truyền chống phá nhà nước XHCN.

- Tư thục thì gọi là xã hội hóa. Chẳng hạn, đừng nên nói họ mở trường tư, bệnh viện tư... mà nên nói rằng họ tham gia thực hiện công cuộc xã hội hóa giáo dục, xã hội hóa y tế... !

- Dịch tả thì gọi là tiêu chảy cấp nguy hiểm. Từ xưa đến nay, chỉ cần nghe "dịch tả" là tôi đã hình dung những thân hình tiều tụy, do cơ thể bị mất quá nhiều nước, thần chết luôn lởn vởn đâu đó quanh người bệnh. Cho nên việc chua thêm cái từ "nguy hiểm" vào sau "tiêu chảy cấp" vừa dài dòng lại dư thừa lãng nhách.

. . .(Có lẽ còn thêm một số nữa ngoài tầm hiểu biết của mình)

Nói tóm lại, cách sử dụng ngôn từ cần nhất là rõ nghĩa và ngắn gọn.

TỪ HÁN-VIỆT, CÓ NÊN DÙNG KHÔNG?
Như đã nói, ngôn ngữ là linh hồn của văn hóa, là căn bản của giao tiếp xã hội. Sự phát triển của ngôn từ phản ánh mức độ văn minh và quá trình tiến hóa xã hội. Thuở thế giới còn mông mụi sơ khai, con người sống thành những bầy đàn theo từng vùng. Mỗi nhóm này sẽ có tập quán, phong tục và thổ ngữ riêng theo chủng người. Về sau, xã hội tiến hóa phân chia thành các quốc gia riêng biệt, nhưng vẫn chịu sự ảnh hưởng của nguồn gốc ban đầu. Do đó, việc các quốc gia lân cận dùng chung một ngôn ngữ hoặc trong có những điểm giống nhau cũng là điều tự nhiên. Chẳng hạn, các quốc gia ở châu Âu như Đức, Áo và Thụy sĩ đều xài chung ngôn ngữ Deutsch. Tiếng Nhật cũng có một số chữ căn bản có nguồn gốc Hán ngữ...
Vì lẽ đó, sự xuất hiện của từ Hán-Việt là lẽ tự nhiên, nhất là Việt Nam đã từng chịu ngàn năm Bắc thuộc. Theo hoàn cảnh xã hội, tiếng Việt còn du nhập thêm nhiều từ gốc Latin khác như Pháp, Mỹ... Chẳng hạn, khi xe đạp phổ biến vào Việt Nam trong thời Pháp thuộc, thì những tên gọi phụ kiện của nó như sên, nhông, líp, gi-đông, ba-ga... đều phiên âm từ tiếng Pháp. Thời đại số, có những từ khi để nguyên bản tiếng Anh còn chính xác, dễ hiểu hơn tiếng Việt. Ví dụ, đối với phần đông cư dân mạng hiện nay, nói Internet sẽ tốt hơn nói mạng máy tính toàn cầu.

Như vậy, từ Hán-Việt vẫn nên dùng tùy theo ngữ cảnh, nhưng tránh lạm dụng. Việc sử dụng là một nghệ thuật, tùy thuộc vào hoàn cảnh và cốt yếu nhất đừng bị gò ép.
Sau 30/4/1975, từng có phong trào vận động dùng chữ thuần Việt nên mới có các cụm từ chiến sỹ gái thay cho nữ chiến sỹ, xưởng đẻ thay cho nhà hộ sinh... May sao nó chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. Việc sử dụng từ Hán-Việt hay thuần Việt, xin được nhắc lại để nhấn mạnh là: tùy thuộc vào ngữ cảnh. Chẳng hạn, trên bảng hiệu không thể sơn chữ Xưởng đẻ mà nên dùng Nhà hộ sinh. Còn nếu có người hỏi: - Bà ấy đi đâu vậy?, thì câu trả lời - Bà ta đi sanh con (hoặc đẻ con), chứ chả ai nói - Bà ta đến nhà hộ sinh để cho đứa bé chào đời!

Tương tự, khi phát biểu trước công chúng, người ta thường dùng: - Kính thưa quý vị, chứ ít nghe ai nói: - Kính thưa mọi người đang nghe nhìn !
Ngày Quốc tế phụ nữ nghe vẫn ổn hơn Thế giới đàn bà con gái !
Ngược lại, có khách đến nhà thì chỉ cần nói: - Mời anh ngồi chơi! chứ chả ai nói: - Mời anh an tọa!

Từ Hán-Việt vẫn dùng bình thường, nhưng chủ quyền quốc gia thì không thể lẫn lộn. Hoa kỳ xài thuần túy Anh ngữ, nhưng biên giới Anh-Mỹ có dính dáng gì đâu?

(Còn tiếp)

.
Đọc tiếp...

/