Những ai có niềm tin vào Đức Thế Tôn và Luật Nhân Quả thì hãy đọc tiếp...
Mang điều giả trá đi rao giảng và buộc người khác làm theo là tội gì?
Thảm sát dân thường không có vũ khí tự vệ là tội gì?
Trưng thu nhà cửa, ruộng vườn, tài sản... người khác làm của cải riêng cho mình là tội gì?
Giết dần giết mòn người thua trận trong trại tù là tội gì?
Nhũn nhặn với kẻ cướp ngoại bang và tàn bạo với đồng bào là tội gì?
Bắt bớ người tùy tiện rồi thả ra với vẻ khoan hồng tha thứ là tội gì?
Cấm đoán mọi người nói lên sự thật là tội gì?
.
Cảm ơn bạn CXP đã forward cho mình đoạn video này:
Cảm ơn tác giả CNB đã gieo những vần thơ mộc mạc và cảm động sau khi xem clip trên:
Con gì thế ?
Trên băng ghế người thanh niên đọc báo
Cạnh cha già dưới bóng mát cây xanh
Chú sẻ con bay đến hót trên cành
Cha liền hỏi đó là con gì thế ?
Con vội đáp "ấy là con chim sẻ"
Nhìn chú chim, cha lại hỏi người con
Nén bực mình, âm giọng khó chịu hơn
"Tôi đã bảo với cha là chim sẻ !"
Nghe tiếng động, chim bay cao thật lẹ
Hướng theo chim, tay che mắt nhìn xa
Giọng trầm trầm cha lại hỏi lần ba
Cũng như trước "đó là con gì thế ?"
"Con chim sẻ, Cha à, con chim sẻ !"
Nhìn cha già, với đôi mắt đứng tròng
Và tuông ra những bực bội trong lòng
Dằn từng chữ, hét to "con... chim... sẻ"
Cha lại hỏi lần thứ tư "gì thế ?"
Con hét lên nghe lớn tiếng nặng lời
"Ông đang làm gì vậy? hả Ông ơi !"
"Tôi đã nói bao nhiêu lần rồi nhé"
"Là chim sẻ, đó là con chim sẻ"
"Có biết không? sao cứ muốn hỏi hoài?"
Cha đứng lên ra dấu chờ chút thôi!
rồi cất bước. Con hỏi: "đi đâu thế?"
Vào nhà lấy đem ra trang nhật ký
Trao vào tay, bảo đọc lớn nghe con!
Nghe lời cha, cất giọng đọc trầm buồn
Từng câu chữ từng cảm thương vời vợi !
"Vài ngày nữa con trai đầy ba tuổi
Hai cha con ngồi ghế đá công viên
Một chú chim đang nhảy nhót cạnh bên
Con lên tiếng hỏi tôi "con gì thế?"
Nghe con hỏi, tôi trả lời "chim sẻ"
Hăm mốt lần, con vẫn hỏi một câu
Hăm mốt lần, "là chim sẻ" giống nhau
Tôi ôm nó mỗi lần nghe con hỏi
Cứ như thế, bên trả lời bên hỏi
Cứ lập đi lập lại mãi không ngừng
Niềm yêu thương thay vì phải nổi khùng
Với đứa bé đầy vô tư tuổi nhỏ. "
Tình phụ tử vẫn cao như thế đó
Mới biết đời nước mắt vẫn chảy xuôi
Trả cho cha, cao lắm bốn lần thôi
Lòng hậm hực, đã buông lời bất mãn
Công nuôi dưỡng, cha cho con vô hạn
Hăm mốt lần, lòng tràn ngập thương yêu
Cho thì nhiều, khi nhận chẳng bao nhiêu
Cũng vui vẻ! Ôi lòng cha cao quý!
Vòng tay siết, ôm cha mắt ngấn lệ
Đôi môi này xin gửi một nụ hôn
Trongthâm tâm lòng cảm xúc vô vàn
Nay đã hiểu lòng cha như núi Thái.
Con xin nguyện nhớ ơn cha mãi mãi !
cnb
.
Ngày Tết thường đi chùa cùng gia đình.
Một cô bạn điện thoại hỏi thăm:
- Trời, anh đi chùa cầu tình duyên hả?
- Hehe, đâu có giống như mấy cô mấy bà đâu, chớ nên suy bụng ta ra bụng mình nha :)
- Vậy chắc cầu chuyện làm ăn kinh doanh rồi...
- Hễ cứ đi chùa là phải cầu này cầu nọ sao?
- Uh, hihi...
Không cầu xin đâu có nghĩa là vô thần không tín ngưỡng. Đức tin trong đời sống tâm linh mỗi người mỗi khác.
Chị và Mẹ thường cầu nguyện cho gia đạo được bằng an. Mình thì thích cái không gian thoáng đãng yên tĩnh, mùi hương trầm ngào ngạt trong tiếng chuông mõ khoan thai...
Âu đó cũng là một diễm phúc hiếm hoi giữa cuộc sống đầy bon chen, lắm xô bồ thường nhật.
Nhớ một thời người ta tôn thờ duy vật biện chứng đến độ cấm chỉ tôn giáo, phá hủy đền chùa. Không ít Phật tử đã cắn răng ghi chữ "Không" vào mục Tôn giáo, tự nhủ rằng Phật ở tại tâm, khai như vậy mong sao hạng lý lịch nhẹ gánh phần nào trên con đường gian truân vào cổng trường đại học.
Hơn hai chục năm mở cửa "đổi mới" (kỳ thực là khôi phục lại nhiều giá trị, tư tưởng bị đả phá sau ngày 30/4/1975), đời sống tâm linh cũng theo đó mà được cải thiện hơn trước nhiều. Một quãng thời gian dài không tín ngưỡng, cộng với sự truyền tải thông tin bưng bít một chiều, hẳn là người ta sẽ có những phản ứng thái quá. Nó cũng tương tự như trường hợp bị bỏ đói lâu ngày, đối tượng sẽ vơ lấy thức ăn mà nhai một cách vội vàng ngấu nghiến.
Hằng năm, ta vẫn thường thấy cảnh hàng ngàn người chen lấn nhau đi lễ chùa, giẫm đạp lên nhau để giành lấy một tờ ấn. Họ hí hửng đội những mâm heo quay lên lễ Phật, mà không mảy may biết rằng sát sanh là điều tối kỵ; họ lâm râm khấn nguyện may mắn đến cho mình và tai ương gieo lên đầu đối thủ, mà quên mất từ bi hướng thiện là tôn chỉ hàng đầu của hầu hết các tôn giáo. Lại có người đi chùa chỉ với mục đích coi tử vi tướng số mà không hề biết gì về luật Nhân - Quả trong đạo Phật.
Tết vừa rồi có cô bạn rủ mình đi chùa. Dọc con đường từ cổng đến sân có nhiều người bày bán sách coi tử vi, sách hướng dẫn cúng sao giải hạn... Thôi thì cái đó tùy ý ai tin thì mua, không tin thì thôi. Đến khi vào một gian điện thờ, thấy có nhiều bàn thờ, cứ nghĩ là mỗi bàn có một vị La Hán, Hộ Pháp hay Bồ Tát... bất giác ngó thấy bức tượng của một người vô thần, sanh thời lại có thành tích thảm sát cả vạn sinh linh, mồ hôi toát lạnh sống lưng, mình lẹ làng chuồn êm ra ngoài, ngồi ngắm cảnh trăng lên mà lòng chưa dứt cơn phiền não. Tự hỏi sau mấy chục năm quá độ đến "thiên đường XHCN", đời sống tâm linh của một dân tộc có bề dày lịch sử Phật giáo cả ngàn năm lại đến nông nỗi này sao?
Có anh bạn người Công giáo kể rằng sau mỗi mùa lễ Valentine thì công việc thiện nguyện của anh và những người cùng nhóm lại nặng nề thêm. Hẳn bạn đọc sẽ thắc mắc sao lạ vậy? Xin thưa ngay đó là việc họ đến các phòng hộ sinh xin hộ lý (nhiều khi phải dùng cả phong bì) những bào thai bị phá bỏ, mang về để Cha xứ làm lễ rửa tội rồi thiêu đi. Họ quan niệm mỗi khi tinh trùng nam giới kết hợp thành công với trứng phụ nữ là đã có một sinh linh hiện hữu.
Tôn giáo nào cũng nhắm đến mục tiêu hướng con người về phía thiện, dù phương pháp và đường hướng có khác nhau. Cá nhân mình còn xem đức tin là chỗ dựa tinh thần, là sự bao trùm cả thế giới bên ngoài sự hiểu biết và trí tưởng tượng của con người.
Năm nay lễ chùa take được một tấm hình rất dễ ghét, thỉnh thoảng lôi ra ngắm và nghĩ sự hồn nhiên trẻ thơ cũng là món quà quý giá của tự nhiên ban cho cuộc sống:
.
Kỷ niệm 16 năm ngày Nhân Quyền Cho Việt Nam, Mười Một Tháng Năm 2010.
Phiên xử phúc thẩm những người hoạt động chính trị đối lập đã y án cho 2 trong số 3 người kháng án.
Kristopher Anderson, thuộc Diễn đàn Tự do Oslo đã phỏng vấn Hòa Thượng Thích Quảng Độ:
.
Linh mục Nguyễn Văn Lý về đến nhà chiều Thứ Hai, 15/3/2010 thì tối hôm ấy, hầu như cộng đồng mạng quan tâm đến nhân quyền ở Việt Nam đều biết tin.
Chỉ ít giờ đồng hồ sau khi từ trại giam trở về Huế, LM Nguyễn Văn Lý đã trả lời phỏng vấn RFA, RFI... Trong cả hai cuộc nói chuyện này, linh mục đều nhấn mạnh:
Linh mục còn cho biết thêm:Bản án này tôi cũng không cho là văn minh, ở chỗ này, tôi đã tuyên bố với họ nhiều lần: - Cách đây hơn 160 năm, ông Karl Marx ở London viết tuyên ngôn Đảng Cộng sản và bộ Tư bản luận thì không bị bắt... Hôm nay tôi cũng làm những công việc tương tự mà tôi lại bị bắt. Chứng tỏ rằng pháp luật Việt Nam về vấn đề này còn lạc hậu hơn cả thời đế quốc Anh cách nay gần 200 năm.
Và nhóm Nguyễn Ái Quốc khi hoạt động ở Pháp ra báo "Người Cùng Khổ"... Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Phan Thế Truyền và cả Nguyễn Tất Thành... đều không bị bắt.
Chứng tỏ luật pháp của thực dân Pháp lúc đó vẫn văn minh hơn luật pháp Việt Nam hôm nay.
RFA tổng hợp quá trình bị giam cầm của LM Nguyễn Văn Lý:
- Cuối tháng 3 năm 2007, linh mục Nguyễn Văn Lý bị Toà án tỉnh Thừa Thiên - Huế phạt 8 năm tù và 5 năm quản chế vì “tuyên truyền chống nhà nước XHCN Việt Nam”. Bản án này đã bị cả dư luận trong nước lẫn cộng đồng quốc tế chỉ trích kịch liệt.
Tuy chỉ là tạm tha nhưng vẫn có thể xem đây là lần thứ tư chính quyền Việt Nam phải nhượng bộ, thả linh mục Nguyễn Văn Lý ra khỏi trại giam, trước khi ông thi hành đủ mức hình phạt mà Toà án Việt Nam đã tuyên.
1. Tháng 9 năm 1977, linh mục Nguyễn Văn Lý từng bị kết án 20 năm tù vì “chống phá cách mạng” nhưng ba tháng sau ông đã được trả tự do.
2. Tháng 5 năm 1983, linh mục tiếp tục bị kết án 10 năm tù vì “gây rối trật tự” nhưng 9 năm sau (tháng 7 năm 1992), chính quyền buộc phải thả ông trước thời hạn.
3. Lần thứ ba, vào tháng 10 năm 2001, linh mục bị kết án 15 năm tù vì hai tội “phá hoại chính sách đoàn kết” và “không chấp hành quyết định quản chế hành chính”, tuy nhiên hơn ba năm sau (tháng 2 năm 2005), chính quyền Việt Nam tiếp tục phải tha linh mục Nguyễn Văn Lý. Chính quyền cho rằng, linh mục đã “biết lỗi” và “hối hận”.
4. Hai năm sau, vào tháng 3 năm 2007, chính quyền Việt Nam tiếp tục phải cầm giữ linh mục Nguyễn Văn Lý bằng bản án thứ tư với hình phạt là 8 năm tù.
Nguồn liên quan:
* LM Nguyễn Văn Lý trả lời phỏng vấn RFA sau khi được trả tự do
* VIỆT NAM - Linh mục Nguyễn Văn Lý được đưa về Tòa Tổng Giám mục Huế để điều trị trong 12 tháng
Một số hình ảnh trong ngày 15/3/2010:
Tường trình chi tiết do Phóng viên Khối 8406 và Linh mục Phan Văn Lợi cung cấp:
Từ 4 giờ sáng, xe cứu thương của trại giam Ba Sao (còn gọi là trại Nam Hà), huyện Kim bảng tỉnh Hà Nam đã đưa cha Lý ra xe.
Đi trên xe có ông phó giám thị trại, viên công an giám sát Linh mụcc Lý là trung tá công an tên Nam, một bác sĩ và 2 nhân viên công an khác. Suốt chặng đường dài từ Hà Nam vào Huế, cha Lý phải nằm trên băng-ca, không thể ngồi dậy được (vì chóng mặt).
Sau gần 12 giờ, xe chạy tới Huế. Linh mục Lý được đưa tới Ủy Ban Nhân dân phường Vĩnh Ninh (khu vực trong đó có Tòa Giám mục và Nhà Chung Tổng Giáo phận Huế) để làm thủ tục “bàn giao” vì cơ quan cấp phường này sẽ tiếp tục việc quản chế giám sát các hoạt động tiếp theo của Linh mục.
Tại trụ sở phường, có một số phóng viên đài báo nhà nước đã trực sẵn.
Sau khi nhận hồ sơ từ ông Phó giám thị trại giam, ông chủ tịch Phường, tên là Chánh (không rõ họ) tuyên bố với cha Lý những yếu cầu của chính quyền địa phương như:
1- Không được nói hay làm bất cứ điều gì chống lại nhà nước.
2- Nếu có biểu hiệu vi phạm pháp luật như thế, chúng tôi sẽ lập biên bản.
3- Ra khỏi phường phải xin phép!
Linh mục Lý trả lời: “Tôi nói thẳng với quý vị điều tôi đã từng nói trước đây với người của nhà nước, của tòa án, của trại giam: tôi không bao giờ nhận mình là phạm nhân cả, mà chỉ là tù nhân lương tâm. Xin quý vị nhớ cho!”
Sau đó công an cùng ông chủ tịch phường đưa Linh mục Lý về Nhà Chung (trong cùng một khuôn viên với Tòa Giám mục Huế).
Đón Linh mục Lý là Đức Giám mục Phụ tá Lê Văn Hồng (Đức TGM Nguyễn Như Thể đang đi công tác tại Sài Gòn), cha quản lý Nhà Chung, cha thư ký Tòa Giám mục, chị gái Linh mục Lý cùng những người bạn cũ.
Sau đó Linh mục Lý lần lượt tiếp nhiều người khách từ các giáo xứ lân cận đến. Ai cũng nhận thấy cha tuy sắc mặt khá hồng hào, tươi tỉnh nhưng có phần hơi ốm và đôi chân thì không thể đứng thẳng được. Muốn di chuyển phải dùng một cái nạng 4 chân (xin xem hình).
Mặc dù sức khỏe Linh mục không được tốt song trí óc vẫn sáng suốt và tinh thần vẫn kiên vững.
Linh mục Lý cho biết là hôm thứ 5 tuần trước, 11/03/2010, cán bộ trung ương đã vào gặp ông hỏi thăm sức khỏe. Tiếp đó, chiều ngày 14/3/2010, cán bộ trại đã đến thu dọn đồ đạc của ông, bỏ vào các xắc tay và báo cho ông là sáng mai, sẽ phải thức dậy lúc 4 giờ.
Ngày Thơ Việt Nam, sưu tầm được bài này của Huỳnh Duy Hạnh đăng trên Phù Sa Online:
Bi hùng chánh niệm
Trong từng hơi thở
Trong mỗi bước chân
Vượt thoát tâm sân
Thành loài chim quý
Cất tiếng hót vang
Gọi đời tỉnh thức
Chim quý hót gì?
Hót tiếng chánh niệm
Hót lời dịu êm
Cho tâm lắng động
Cho đời yêu thương
Hót tiếng từ hòa
Hót lời chân thực
Để xóa hận thù
Xây tình huynh đệ
Hót mời bảo vệ
Hót gọi đổi thay
Cho đất nước này
Thoát vòng tủi nhục
Cho hỏi, cho hỏi
Chim gì mà quý?
Cổ sử có ghi
Phụng Hoàng chim quý
Phải lúc biến, nguy
Hót mời gọi chủ
Hội tụ hiền nhân
Chuyển xoay vận nước
Những kẻ bạc nhược
Nghe tiếng chim này
Cuốn cuồng truy giết
Nhưng chúng đâu biết
Phụng Hoàng bất diệt
Cớ sao bạn biết?
Tôi được nghe rằng …
“Từ đóng tro tàn
Con chim Phụng Hoàng
Vỗ cánh bay lên…”
Giờ đây, tôi thấy
Trên đất nước này
Kinh thư Bát Nhã
Đã hóa tro tàn
Cho chim Phụng Hoàng
Vỗ cánh bay lên
Và …
Chim Phụng bay lên
Để rồi chim Phụng hót …
Hót tiếng bi thương
Cho lòng người rúng động
Hót giọng đau lòng
Bởi đạo lý suy vong
Hót gọi Lạc Hồng
Khơi cội nguồn nước Việt
Hót … hót … hót…
Hót cho dân ta biết
Hót cho kẻ bạc nhược kinh hoàng
Hót cho lũ ngoại bang khiếp vía
Chim Phụng hót gì?
Chim Phụng hót … Hùng Vương thủy tổ
Khởi nghiệp phương Nam
Dựng nước Văn Lang
Tự hào Lạc Việt
Chúng bây có biết
Bao bậc tiền nhân
Vị quốc vong thân
Giữ gìn xã tắc
Bất khuất trung kiên
Sách sử còn biên
Chưa phai nét mực
Hồn thiêng sông núi
Còn ở ngay đây
Thì … lũ chúng bây
Đừng hòng bán nước
Chớ nên tiếp bước
Ích Tắc, Duy Khiêm [1]
Làm nhục tổ tiên
Tích sử còn nguyên
Liệu đường mà tránh.
Phụng Hoàng cũng hót …
Trời này trời Nam
Đất này đất Việt
Biển này biển Đông
Thủy tổ Tiên Long
Trống đồng dựng nước
“Rành rành định trước
Ghi ở sách Trời”
Phong tục ngàn đời
Bắc Nam khác biệt
Hào kiệt song hành
“Thời nào cũng có”
Ngô Vương phá Hán
Thường Kiệt phủ đầu
Quân binh giặc Tống
Vó ngựa Nguyên Mông
Chôn sông Bạch Đằng
Dưới tay Hưng Đạo
Vết nhục tàn bạo
Chu Lệ triều Minh
Lê Lợi điều binh
Bình Ngô đại cáo
Thăng Long nhuộm máu
Lũ giặc Mãn Thanh
Khiếp vía kinh hoàng
Quang Trung Nguyễn Huệ
Hễ …
Trời kia còn mây
Đất nọ còn cây
Biển này còn sóng
Thì giống Lạc Hồng
Còn sinh hào kiệt
Nếu bây không biết
Hãy giở sử xưa
Niệm từng chữ một
Chớ có dại dột
Láo xược ngang tàn
“Nhữ đẳng hành khang”
Bại hư… đáng tiếc
……………
Bạn ơi! ……Có biết?
Tiếng hót Phụng Hoàng
Lịch sử sang trang
Muôn đời như một.
Huỳnh Duy Hạnh
----------------
Nguồn: Phù Sa Online
.
Có lẽ họ quyết tận diệt bằng được những mầm mống bị xem là "thuốc phiện của nhân dân":
1. Đón chào năm thánh 2010 bằng sự kiện này:
Kinh Hòa Bình cùng màu tang chế tại Gx Đồng Chiêm chiều 06.01.2010
Cha Khải phỏng vấn giáo dân Gx Đồng Chiêm (1)
Cha Khải phỏng vấn giáo dân Gx Đồng Chiêm (2)
Cha Khải phỏng vấn giáo dân Gx Đồng Chiêm (3)
2. Ai đã từng là Phật tử, từng đi chùa, từng nghe kinh pháp... hãy nhận xét về những kẻ tự xưng là "phật tử" của chùa Phước Huệ trong đoạn video clip sau:
Chân dung các "phật tử + quần chúng tự phát" ở chùa Phước Huệ
------------------------------
Xem thêm:
- Tòa Tổng Giám mục Hà nội lên tiếng về vụ Đồng Chiêm
- Tranh chấp tại Giáo xứ Đồng Chiêm
- Tăng thân Bát Nhã phải "tu tập chui"
- Gia tăng sử dụng côn đồ trấn áp tôn giáo
.
Những tờ lịch cuối cùng của năm 2009 đang từ từ rơi xuống. 365 ngày đi qua với nhiều sự kiện, biến cố xảy ra trên khắp thế giới. Bên ly cà phê cuối năm này là bản tổng hợp tin tức - hay còn gọi là TOP 10 câu chuyện thời sự Việt Nam.
Không giống với những danh sách TOP 10 của bất kỳ một tờ báo, trang mạng hoặc blog nào khác - TOP 10 này chỉ xoay quanh các vấn đề liên quan đến Việt Nam và điểm đặc biệt là - chỉ tập trung vào những chủ đề mang tính hệ thống, tức là có sự lặp lại với 2 sự kiện trở lên. Mỗi sự kiện trong cùng chủ đề sẽ được tóm tắt trong một cái gạch đầu dòng, hoặc đơn giản chỉ là một liên kết, hay một đoạn video clip...
Sau đây là danh sách TOP 10 vấn đề thời sự Việt Nam 2009:
1. Con Đường Dân Chủ còn lắm chông gai
Vấn đề nổi bật nhất trong năm 2009 có lẽ là việc bắt giam và khởi tố một loạt các nhà đấu tranh dân chủ trong nước.
- Đợt 1 gồm Ô. Lê Công Định, một luật sư có tiếng ở Sài gòn, và nhóm nghiên cứu Chấn do Ô. Trần Huỳnh Duy Thức thành lập.
Ô. Lê Công Định được biết đến như là một luật sư đã tham gia nhiều vụ án nổi tiếng như các vụ kiện tranh chấp thương mại về cá tra, ba-sa với nước ngoài; các vụ bào chữa cho những nhà đấu tranh dân chủ Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân. Ngoài ra, luật sư Lê Công Định còn là tác giả của nhiều bài viết kêu gọi canh tân, cổ vũ dân chủ đăng trên BBC, Tia Sáng và Tuổi Trẻ.
Ô. Trần Huỳnh Duy Thức là kỹ sư Công nghệ Thông tin, chủ Công ty TNHH Một Kết Nối, khởi xướng "Nhóm nghiên cứu Chấn" trên cơ sở dự đoán cho rằng năm 2010 sẽ năm vong và tiếp đến 2020 sẽ là năm tận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đó thực hiện kế sách "Đoài đánh Đoài" nhằm lợi dụng mâu thuẫn giữa 2 phe cấp tiến và bảo thủ trong nội bộ Đảng CS triệt tiêu lẫn nhau, mở đường cho thể chế đa đảng sau này, và nhóm Chấn sẽ là một trong số các tổ chức chính trị thuộc thể chế đó.
- Đợt 2 gồm Ô. Nguyễn Tiến Trung và Ô. Trần Anh Kim. Cả hai đều là cựu quân nhân thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Ô. Nguyễn Tiến Trung đã tốt nghiệp cao học ngành Công nghệ Thông tin tại Pháp. Từ nhiều năm trước đã công khai tham gia Đảng Dân chủ và điều hành Tổ chức Tập hợp Thanh niên Dân chủ. Về nước và "được" gọi đi nghĩa vụ quân sự đầu năm 2008. Trong thời gian tại ngũ, đã khẳng khái không đọc lời thề "Trung với Đảng (Cộng sản)", đây cũng là hành động dễ lý giải vì trong lý lịch nhập ngũ Ô. Trung đã ghi rõ là đảng viên Đảng Dân chủ. Ngoài ra, còn một điều mà bất kỳ một công dân nào cũng nhận thấy là "Trung với Nước" hoàn toàn khác xa "Trung với Đảng", bởi lẽ đảng phái chỉ là một tổ chức chính trị KHÔNG ĐƯỢC PHÉP ĐẠI DIỆN CHO QUỐC GIA, DÂN TỘC.
Ô. Trần Anh Kim mang quân hàm Trung tá trong QĐND Việt Nam, đã nghỉ hưu và thường xuyên tham gia các cuộc tranh đấu cho dân oan.
* Trong những ngày cuối năm này, nhà nước CHXHCN Việt Nam bất ngờ chuyển tội danh truy tố cho các nhà hoạt động dân chủ từ vi phạm điều 88 sang điều 79 (Luật Hình sự). Hình phạt cao nhất nhắm đến tội danh "lật đổ chính quyền nhân dân" ở điều 79 là mức án tử hình! Việc cho phổ biến "dọn đường" bản cáo trạng trên các phương tiện truyền thông trước khi xét xử càng chứng tỏ sự yếu kém và phi nhân quyền của pháp luật Việt Nam hiện hành.
2. Sự thành công của người gốc Việt trên xứ sở Tự Do
Trước đây, số người gốc Việt thành công trên xứ người còn rất hiếm, chỉ vài người được biết đến như nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, doanh nhân Trần Đình Trường, ...
Năm 2009 được xem là năm rạng rỡ của dòng dõi Lạc Hồng trên khắp năm châu. Ít ai ngờ vài chục năm trước, nhiều người trong số họ đã phải liều mình vượt hiểm nguy, từ bỏ quê cha đất tổ để mưu cầu Tự Do trên xứ lạ, trong thân phận của người tỵ nạn:
Philipp Roesler, Thảo Nguyễn, Jacqueline Nguyễn
- Dân biểu Joseph Cao Quang Ánh giành thắng lợi trên chính trường nước Mỹ
- Giáo sư Ngô Bảo Châu có công trình toán học được Tạp chí Time của Mỹ bình chọn là một trong 10 khám phá tiêu biểu của khoa học Thế giới năm 2009
- Khoa học gia Trịnh Xuân Thuận cùng nhận Giải thưởng về phổ biến khoa học Kalinga năm 2009 với giáo sư Yash Pal người Ấn Độ.
- Trung tá Lê Bá Hùng, hạm trưởng khu trục hạm USS Lassen, vừa có chuyến viếng thăm cảng Đà Nẵng đầy bất ngờ và lý thú.
- Bộ trưởng Y tế Đức Philipp Roesler (được một gia đình người Đức nhận con nuôi từ nhỏ nên không tìm thấy tên Việt của ông)
- Giáo sư Thảo Nguyễn lọt vào danh sách 100 nhà khoa học trẻ được nhận giải thưởng của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama trong năm 2009
- Thẩm phán liên bang, bà Jacqueline Nguyễn, là người gốc Việt đầu tiên được vinh dự tham gia hệ thống hành pháp cao cấp của Hoa Kỳ
3. Số phận hẩm hiu của văn nghệ sĩ trí thức trong nước
- Đầu năm, nữ đạo diễn Song Chi (nổi tiếng với bộ phim truyền hình nhiều tập Nữ Bác Sỹ) đã phải xin tỵ nạn ở Na Uy. Nguyên nhân là bị trù dập tại nơi làm việc do đã tham gia biểu tình đòi chủ quyền cho Hoàng Sa, Trường Sa và viết blog cổ võ Tự Do - Dân Chủ - Nhân Quyền ở Việt Nam.
- Kế tiếp là Viện Nghiên cứu IDS tự giải thể để phản đối Quyết định 97 của Thủ tướng Chính phủ.
- Sau đó không lâu thì tờ báo Tia Sáng bị đình bản, dập tắt những hy vọng mong manh của giới trí thức Việt Nam theo xu thế canh tân. Giáo sư Hoàng Tụy - người có công trình toán học được thế giới công nhận (có lẽ là duy nhất trong hằng hà sa số "tiến sĩ" Việt Nam thời XHCN) - đã phải tuyên bố:
Vậy xin các bạn thông cảm và lượng thứ nếu thấy tôi "im lặng đáng sợ" trong thời gian tới!
- Chưa hết, khi không khí đón Giáng Sinh và năm mới đang đến gần thì có tin trang mạng BauxiteVietNam - tiếng nói phản biện của tri thức Việt Nam - đã bị "tin tặc" tấn công phá hoại.
4. Tam Tòa và Bát Nhã
- Câu chuyện Thái Hà chưa nguôi thì vấn đề tranh chấp đất đai lại tái diễn ở giáo xứ Tam Tòa.
- Nhưng sự kiện tôn giáo bi hài nhất năm 2009 lại diễn ra tại vùng cao nguyên Bảo Lộc. Khi hàng chục "giang hồ xã hội đen" tham gia đập phá nơi tu học của 200 thiền sinh thuộc pháp môn Làng Mai - đang tu tập tại Tu viện Bát Nhã. Điều kỳ quái và tội lỗi nhất là hành vi này diễn ra trước sự chứng kiến của chính quyền địa phương. Vài tháng sau thì 200 tăng sinh phải rời tu viện Bát Nhã đến tá túc tại chùa Phước Huệ ở thị xã Bảo Lộc. Được biết ngày 31/12/2009 này là hạn chót họ buộc phải rời khỏi chùa Phước Huệ.
5. "Lề phải" nhàm quá, sang "lề trái" tìm kiếm Sự Thật nào!
- Tiếp nối một loạt hồi ký và tự truyện của những người từng đứng trong hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam (như Nhật Ký Rồng Rắn của cố Trung tướng Trần Độ, Hồ Ức Và Suy Nghĩ của cựu Ngoại trưởng Trần Quang Cơ, Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh...) - việc ra mắt cuốn "Hồi Ký Của Một Thằng Hèn" đã gây nên một sự kiện đình đám của làng văn nghệ trong và ngoài nước. Có lẽ chính cái tựa đề "không đụng hàng" của một ông nhạc sỹ đã ngoại bát tuần tự nhận mình là HÈN. Nhạc sỹ Tô Hải còn được biết đến như là một blogger cao tuổi nhất Việt Nam hiện nay, với những bài Tuần ký đều đặn đầy chất dí dỏm nhưng không kém phần sắc sảo trong lý luận, đúng là gừng giá quá cay!
- Suốt mấy chục năm dày công xây dựng huyền thoại Hồ Chí Minh, có lẽ Đảng CSVN không thể lường được sự phát triển vượt bậc của kỹ nghệ thông tin trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay. DVD "Sự Thật về Hồ Chí Minh" xuất hiện không gây bất ngờ nhiều lắm đối với những ai đã theo dõi thông tin đa chiều trên Internet. Có những câu chuyện về Ô. HCM người ta đã xầm xì bàn tán nơi quán nước vỉa hè cả chục năm nay. Giá trị của cuốn DVD là tổng hợp và hệ thống hóa tất cả những nhân chứng, vật chứng có liên quan nhằm mục đích vạch trần huyền thoại HCM mà bộ máy tuyên truyền nhồi sọ của Đảng CSVN đã thực hiện trên đất nước Việt Nam qua nhiều thế hệ.
- Giáo sư Phan Huy Lê đã chính thức xác nhận sự thật về huyền thoại Lê Văn Tám, "ngọn đuốc sống" giờ đây đã trở thành viên sạn khó nhai nhất trong giáo trình lịch sử Việt Nam thời XHCN.
6. Những vụ kiện vô tiền khoáng hậu ở Việt Nam trong năm 2009
- Sống dưới chính thể độc tài ngót 35 năm qua, người dân Việt có lẽ đã quen với suy nghĩ "những gì báo đài nhà nước loan tải đều là chân lý tuyệt vời". Chân lý ấy đã và đang lung lay dữ dội dưới sức mạnh của mạng thông tin toàn cầu. Các giáo dân Thái Hà đã đệ đơn khởi kiện Đài Truyền Hình VTV và báo Hà Nội Mới với cáo buộc rằng các cơ quan này đã loan tin không đúng sự thật. Cụ thể là đã đăng tin "họ cúi đầu nhận tội trước tòa", nhưng sự thật thì họ đã không làm chuyện đó!
- Vụ kiện động trời nhất là lá đơn của Ô. Cù Huy Hà Vũ kiện Thủ tướng đương nhiệm Nguyễn Tấn Dũng về việc ký phê chuẩn dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Vị tiến sỹ tốt nghiệp ngành Luật ở Pháp này đã viện dẫn 3 vi phạm nghiêm trọng của dự án Bauxite Tây Nguyên, đó là vi phạm các luật Bảo vệ môi trường, luật Di sản văn hóa và luật Quốc phòng. Tòa án Nhân dân Hà nội tất nhiên là không thể và không dám thụ lý, nên đã cho nó vượt cấp lên đến Tòa Tối cao. Tòa án Nhân dân Tối cao sau hơn cả tháng trời "ngâm cứu" cũng mời bên nguyên đơn lên để trả lại, vì "trong pháp luật Việt Nam không có quy định nào về việc công dân kiện thủ tướng" !!!
7. "Đỉnh cao trí tuệ" và những phát ngôn ấn tượng
Còn gì để nói sau khi xem 3 đoạn video sau đây?
8. Sai sót có chủ ý hay lỗi kỹ thuật đơn thuần? (còn được gọi là giai thoại "cậu đánh máy")
Truyền thông lề phải năm 2009 đưa ra nhiều thuật ngữ mới và ...ngây ngô đến ngớ ngẩn.
- Trong sự kiện hoàng loạt thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam bị tàu có vũ trang của Trung Quốc bắt giữ, đụng chìm... một số tờ báo dè dặt đưa tin là bị va chạm với "tàu lạ"! Cư dân mạng ưa khôi hài bèn lấy ngay cái từ "lạ" đặt trong ngoặc kép này để viết tắt cho 2 từ Trung Quốc. Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng có một tiểu phẩm hài Làm sao cho khỏi lọa để châm biếm sự việc này.
- Việc trang web hợp tác www.chinavietnam.gov.vn bị phía "bạn" lợi dụng đưa tin bất lợi về chủ quyền 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa được xem là sự kiện mở màn cho sự cố "lỗi kỹ thuật"
- Lỗi kỹ thuật được nói đến tiếp theo là hình ảnh binh lính hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc được đưa lên minh họa cho bài báo "Những chú lính ở sân ga" của nhà văn Dạ Ngân đăng trên báo Báo Phụ nữ TpHCM số 23, ra ngày 21/6/2009 (số kỉ niệm 84 năm Ngày Báo chí CM Việt Nam)
- Ngày 4/9/2009 website của báo Đảng Cộng sản Việt Nam (cpv.gov.vn) đã đăng lại một bài đưa tin tập trận của Hải quân Trung Quốc trên Biển Đông. Điều đáng nói là bài dịch đăng lại theo quan điểm của tờ Hoàn Cầu, Phượng Hoàng của Trung Quốc. Qua đó, người đọc cảm nhận sự xúc phạm đến chủ quyền và độc lập của Việt Nam. Lối bao biện vụng về của Ô. Tổng Biên tập Đào Duy Quát nhằm đổ trách nhiệm cho "cậu đánh máy" càng gây thêm sự bất bình của cư dân mạng.
- Một blogger đã phát hiện hệ thống quảng cáo trên xe buýt và các siêu thị ở TpHCM (do một công ty Trung Quốc trúng thầu đảm nhiệm) - đã đưa hình bản đồ Việt Nam mà không có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa!
- Ngày 22/12/2009, nhân dịp kỷ niệm 65 năm thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, một số pa-nô cổ động dựng tại những nơi công cộng ở TpHCM lại tái diễn màn sử dụng hình ảnh binh lính Trung Quốc để minh họa!
9. Tự do ngôn luận bị đàn áp
- Chỉ vì lên tiếng đòi chủ quyền cho 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; vận động giữ màu xanh và an ninh cho Việt Nam mà một số blogger đã bị bắt giữ và tra vấn trong nhiều ngày. Đó là các blogger Mẹ Nấm, blogger Người Buôn Gió, blogger Sphinx và nhà báo Đoan Trang.
- Nhà văn và nhà hoạt động dân chủ Trần Khải Thanh Thủy bị bắt giữ vì tội "cố ý gây thương tích", trong đó hình chụp nạn nhân được cư dân mạng phanh phui là giả mạo. Còn Tiến sỹ luật học Cù Huy Hà Vũ thì nhận định có thể là "một hành vi bẫy người khác phạm tội".
- Mạng xã hội Facebook bị ngăn chận tại Việt Nam. Điều đáng chê trách là tất cả các ISP của Việt Nam đều thực hiện theo kiểu "ném đá giấu tay", thể hiện sự lúng túng và không chính danh trong việc thực thi sứ mệnh bưng tai-che mắt-bịt miệng này.
10. Tham nhũng vs Anh hùng
- Tham nhũng được xem là quốc nạn, thế nhưng việc xử lý tệ nạn này còn nhiều khuất tất. Từ việc các nhà báo đưa tin bị sách nhiễu, bỏ tù cho đến việc bẻ lái tội danh ăn hối lộ thành "cố ý làm trái" hoặc "lợi dụng chức vụ"... Tất cả đều gây nên tâm lý bất an và hứa hẹn tương lai ảm đạm về một xã hội kém minh bạch đi kèm với nền kinh tế theo định hướng XHCN ở Việt Nam.
- Đối nghịch lại với chuyện xử nhẹ tội tham nhũng hối lộ, là những vụ kết án quá nặng nề cho nhiều nhà hoạt động dân chủ chỉ vì những lời kêu gọi và hành động ôn hòa của họ. Đó là các vụ xét xử nhà giáo Vũ Hùng, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, ông Nguyễn Văn Tính, ông Nguyễn Kim Nhàn, ông Nguyễn Văn Túc, sinh viên Ngô Quỳnh, ông Nguyễn Mạnh Sơn, kỹ sư Phạm Văn Trội...
- Riêng phiên tòa xét xử cô Phạm Thanh Nghiên ngày 17/12/2009 vừa rồi đã phải hoãn lại. Không biết án sẽ kêu thế nào khi thời gian giam giữ cô Nghiên đã quá nhiều so với "tội" tọa khán tại nhà với những biểu ngữ bảo vệ chủ quyền biển đảo?
- Bên cạnh những vụ án dân chủ, còn có một vụ gây nhiều nghi vấn là chuyện kết án nặng bà Ba Sương - người từng được phong tặng anh hùng lao động thời kỳ đổi mới.
---------------------------
Ghi chú:
* Hình ảnh và phim minh họa được sưu tầm từ Internet
* Chú thích bên dưới các bức ảnh xin mạn phép lược bỏ đại từ nhân xưng (ông/bà/chức danh...) để bớt rườm rà.
.
Kính gửi:
1/ Ngài Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam
2/ Ngài Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
3/ Ngài Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Chúng tôi ký tên dưới đây, những người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, xin trân trọng gửi thư này tới quí ngài để thỉnh cầu quí ngài can thiệp một việc vô cùng khẩn thiết, liên quan đến số phận của 400 tu sĩ, tu sinh Phật giáo trẻ tuổi đang gặp nguy khốn ở huyện Bảo Lộc, thuộc tỉnh Lâm Đồng.
Qua các phương tiện truyền thông quốc tế và các trang mạng, chúng tôi được biết: 400 tu sĩ và tu sinh Phật giáo được nhà nước chấp nhận cho tu học tại Tu viện Bát Nhã, xã Đambri, huyện Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng từ năm 2006, đã bị chính quyền địa phương ra lệnh trục xuất khỏi tu viện với những lý do chưa minh bạch. Điều hết sức nguy hiểm là trong những ngày cuối tháng 6/2009, hàng trăm kẻ lạ mặt đã dùng hung khí tấn công, phá phách tu viện Bát Nhã và hành hung các tu sĩ ở đó. Ngày 29/6/2009 chúng lại tấn công, gây thương tích và ném phân vào phái đoàn của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Lâm Đồng đến xem xét tình hình tại tu viện trên. Suốt 3 tháng qua các tu sĩ và tu sinh ở đây liên tục bị gây khó khăn và sách nhiễu như: cắt điện nước, ngăn cản tiếp tế lương thực, đe dọa khủng bố, phá nơi thờ cúng và chỗ ở, lấy cắp đồ thờ cúng. Cuối cùng, ngày 27/9/2009, hàng trăm kẻ lạ mặt xông vào tu viện đập phá và hành hung, dùng vũ lực đuổi các tu sĩ và tu sinh ra khỏi tu viện.
Điều hết sức đáng lo ngại là những việc làm càn rỡ và phạm pháp có tổ chức nói trên diễn ra trước sự chứng kiến của lực lượng công an địa phương, và mọi lời kêu cứu của những người bị hại gửi đến các cấp chính quyền huyện và tỉnh đều không được để ý. Thậm chí ngày 30/6/2009, Ban Trị sự GHPG Lâm Đồng đã có văn thư tường trình khẩn cấp về việc phái đoàn bị hành hung, gửi đến các cấp các ngành, nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết.
Hiện nay, sau khi các tu sĩ và tu sinh Bát Nhã chạy sang chùa Phước Huệ thị xã Bảo Lộc tạm trú, thì lực lượng công an bao vây chùa Phước Huệ và ráo riết xua đuổi những tu sĩ và tu sinh này ra khỏi chùa, buộc họ giải tán trở về địa phương.
Điều rất bất bình thường là toàn bộ hệ thống truyền thông chính thức của Việt Nam hầu như làm ngơ suốt thời gian xảy ra những sự biến ở Tu viện Bát Nhã.
Nhận thấy những sự kiện bất ổn kéo dài ở tu viện Bát Nhã gây thương tổn trầm trọng cho tinh thần và thể xác của 400 tu sĩ, đa số là người trẻ – tương lai của đất nước, gây chấn động trên thế giới bất lợi cho hình ảnh một nước Việt Nam tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, bảo đảm an ninh và nhân phẩm của con người, có luật pháp nghiêm minh; để bảo vệ những quyền chính đáng của mọi công dân nước CHXHCN Việt Nam, nêu cao tinh thần thượng tôn pháp luật, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc vô cùng cấp thiết trong hoàn cảnh đất nước đang đứng trước nhiều nguy cơ trong ngoài, chúng tôi tha thiết thỉnh cầu quí ngài:
1/ Cho lập ngay một Ủy ban điều tra cấp Nhà nước về vụ Bát Nhã, có sự tham gia của các đoàn thể quần chúng và một số nhân sĩ trí thức độc lập. Sau khi có kết quả điều tra, xin công bố rộng rãi và tiến hành xử lý nghiêm minh mọi người, mọi hành vi phạm pháp theo đúng pháp luật.
2/ Trong khi chờ đợi kết quả điều tra, có biện pháp bảo đảm an ninh và điều kiện sinh họat bình thường cho các tu sĩ và tu sinh.
3/ Giao cho Giáo hội Phật giáo sắp xếp việc tu hành của các tu sĩ và tu sinh ở Bát Nhã trước đây một cách công bằng, hợp tình hợp lý, hợp với nguyện vọng của họ, các luật tắc của Giáo hội và luật pháp Việt Nam.
4/ Khuyến khích giới truyền thông tiếp cận thực tế và thông tin cho toàn dân biết sự thật về những gì đã và đang xảy ra về vụ Bát Nhã.
Kính mong quí ngài khẩn thiết xem xét thư thỉnh nguyện này và đáp ứng lời thỉnh cầu của chúng tôi. Xin gửi tới quí ngài lời chào trân trọng.
Ngày 5/10/2009
Đồng ký tên:
1/ Tống Văn Công, Đảng viên 50 năm tuổi Đảng, Nguyên TBT báo Lao Động. Cư trú: Phường Tân Kiểng, Quận 7, TPHCM, Việt Nam
2/ Nguyễn Quang A, Tiến sĩ, Nhà nghiên cứu tự do. Cư trú: 19 Đoàn Nhữ Hài, Hà Nội, Việt Nam
3/ Hoàng Hưng, Nguyên Trưởng ban Văn hoá-Văn nghệ báo Lao Động, làm thơ, dịch sách. Cư trú: 3C Phổ Quang, Tân Bình, TPHCM, Việt Nam
4/ Dương Tường, Nhà thơ, Dịch giả. Cư trú: 3B ngõ Phan Huy Chú, Hà Nội, Việt Nam
5/ Phạm Toàn, Nhà giáo, Nhà văn. Cư trú: Hà Nội, Việt Nam
6/ Vũ Thư Hiên, Nhà văn. Cư trú: Paris, Pháp
7/ Bùi Minh Quốc, Nhà thơ, Nguyên Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Lâm Đồng. Cư trú: 3 Nguyễn Thượng Hiền, Đà Lạt, Việt Nam
8/ Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng, GS Kinh tế học, Đại học Laval. Quebec, Canada
9/ Đặng Nhật Minh, NSND, Đạo diễn Điện ảnh. Cư trú: 16A Hàn Thuyên, Hà Nội, Việt Nam
10/ Hà Dương Tường, Professeur Émerite de l’Université de Technologie de Compiègne. Cư trú: Paris, Pháp
11/ Phạm Quang Tuấn, PGS Đại học New South Wales, Australia
12/ Bình Nguyễn, Tiến sĩ, Khoa học gia. Cư trú: California, Mỹ
13/ Phạm Xuân Yêm, Giám đốc Nghiên cứu CNRS và Đại học P. et M. Curie. Paris, Pháp
14/ Nguyễn Đỗ, Nhà thơ, Dịch giả. Cư trú: San Francisco, Mỹ
15/ Ý Nhi, Nhà thơ. Cư trú: Gò Vấp, TPHCM, Việt Nam
16/ Song Chi, Đạo diễn Điện ảnh. Cư trú: Kristiansand, Na Uy
17/ Lý Lan, Nhà văn. Cư trú: North Carolina, Mỹ
18/ Ngô Đức Thọ, PGS TS, Nhà nghiên cứu Hán Nôm, tham gia dịch nhiều kinh sách Phật giáo. Cư trú: Hà Nội, Việt Nam
19/ Trần Nam Bình, PGS TS, University of New South Wales, Australia
20/ Bùi Như Hương, Nhà nghiên cứu Phê bình Mỹ thuật. Cư trú: Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
21/ Mai Hiền, Nguyên TBT báo Phụ Nữ TPHCM. Cư trú: TPHCM, Việt Nam
22/ Hoàng Ngọc Tuấn, Nhạc sĩ, Nhà văn, Nhà nghiên cứu & Phê bình Văn học Nghệ thuật, Đồng Chủ bút tạp chí liên mạng Tiền Vệ (tienve.org). Cư trú: Sydney, NSW, Australia
23/ Nguyễn Đắc Xuân, Nhà nghiên cứu Văn hóa, viết báo. Cư trú: Huế, Việt Nam
24/ Hoàng Dũng, PGS TS, Đại học Sư phạm TPHCM, Việt Nam
25/ Nguyễn Đăng Hưng, Giáo sư Danh dự Thực thụ, trường Đại học Liège, Bỉ
26/ Phạm Đình Trọng, Nhà văn, Nhà báo. Cư trú: P. 15, Q. Tân Bình, TPHCM, Việt Nam
27/ Nguyễn Thanh Giang, Tiến sĩ. Cư trú: Số nhà 6, Tập thể Địa Vật lý Máy bay, Trung Van, Từ Liêm, Hà Nội, Việt Nam
28/ Augustine Hà Tôn Vinh, GS, Cố Vấn & Giảng viên, Khoa QTKD, ĐH Quốc Gia Hà Nội;
Chủ Tịch kiêm Tổng Giám đốc, Tổ hợp Giáo dục, Đào tạo & Tư vấn Quốc tế
Stellar Management; Nguyên Giám đốc, Chuơng trình Cao học Quản trị Kinh Doanh, ĐH Tổng hợp Hawaii, TP HCM, Việt Nam
29/ Ngô Vĩnh Long, Giáo Sư về Á Châu, Đại học Tổng Hợp Bang Maine, Hoa Kỳ
30/ Chu Văn Sơn, TS Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, Việt Nam
31/ Đỗ Thị Vinh, Tiến sĩ Hóa học, về hưu. Cư trú: CHLB Đức
32/ Nguyễn Tường Bách, Phật tử, Tác giả một số sách về Phật giáo. Cư trú: CHLB Đức
33/ Bùi Tín, Nhà báo Tự do. Cư trú: Paris, Pháp
34/ Lê Xuân Khoa, GS Thỉnh giảng, Đại học John Hopkins, Washington DC, Hoa Kỳ
35/ Bùi Ngọc Tấn, Nhà văn. Cư trú: 10 Ngô Quyền Hải Phòng, Việt Nam
36/ Trang Hạ, BTV Văn học, Công ty Sách Đinh Tị 9-6A Đầm Trấu, Hà Nội, Việt Nam
37/ Trịnh Lữ, Dịch giả. Cư trú: 108 Quan Thánh, Hà Nội, Việt Nam
38/ Nguyễn Thị Mười (pháp danh Tâm Hoa Thiện). Cư trú: 3C Phổ Quang, Quận Tân Bình, TPHCM, Việt Nam
39/ Hồ Thị Hòa, BTV NXB Tri Thức, Hà Nội, Việt Nam
40/ Khánh Phương Dương, BTV. Cư trú: Thôn Kiều Mai, Phú Diễn, Từ Liêm, Hà Nội, Việt Nam
41/ Đỗ Quyên, Nhà thơ. Cư trú: Vancouver, Canada
42/ Đào Xuân Dũng, BS Y khoa (hưu trí). Cư trú: Hà Nội, Việt Nam
43/ Nguyễn Hồng Khoái, Chuyên viên Tư vấn, Hội viên CLB Kế toán trưởng, Hội viên Hội Tư vấn Thuế Việt Nam. Cư trú: Hà Nội, Việt Nam
44/ Quân Hoàng, Sinh viên. Cư trú: Tampa, Florida, Mỹ
45/ Uông Đình Đức, Nguyên Cán bộ TCT Thép Việt Nam (hưu trí). Cư trú: 168/37 Nguyễn Cư Trinh, TPHCM, Việt Nam
46/ Trần Minh Thành, Tu sĩ Phật giáo tại Lâm Tỳ Ni, Nepal
47/ Đào Phương, Giáo viên. Cư trú: Hà Nội, Việt Nam
48/ Ngô Minh, Hội viên Hội Nhà Văn VN, HV Hội nhà báo VN. Cư trú: 11/73 Phan Bội Châu, Huế, Việt Nam
49/ Trần Minh Khôi, Kỹ sư Tin học. Cư trú: Berlin, CHLB Đức
50/ Hàm Đan, Nhà báo Tự do. Cư trú: Hà Nội, Việt Nam
51/ Nguyễn Văn Tạc, Giáo viên Hưu trí. Cư trú: Hà Nội, Việt Nam
52/ Phan Thị Ngọc Linh, Nguyên Giáo viên trường PTCS Lê Quý Đôn, Quận 1 TPHCM. Cư trú: TPHCM, Việt Nam
53/ Nguyễn Bá Chung, Nhà nghiên cứu Văn học, Dịch giả, Trường Đại học Massachusetts, Boston, Mỹ
54/ Phan Tú Quỳnh, Giáo viên hưu trí. Cư trú: California, Mỹ
55/ Nguyễn Huỳnh Thuật, Nghiên cứu sinh Đại học Nông nghiệp & Công nghệ Tokyo (TUAT), Nhật Bản
56/ Nguyễn Thị Thu Hà. Cư trú: 3015 Clamont Lane, Eustis, Florida, USA 32726
57/ Nguyễn Hữu Úy. Cư trú: 3015 Clamont Lane, Eustis, Florida, USA 32726
58/ Nguyễn Việt. Cư trú: 3015 Clamont Lane, Eustis, Florida, USA 32726
59/ Trần Văn Cung, Kỹ sư Luyện kim. Cư trú: Số 6 đường Am Stadtpark, TP Sulzbach-Rosenberg, CHLB Đức
60/ Đoàn Viết Hiệp, Kỹ sư Điện toán. Cư trú: Antony, Paris, Pháp
61/ Nguyễn Thu, Tác giả sách Dai Viet Kingdom of the South (Trafford Publishing, May 2009)
62/ Lê Hải Lý, Chuyên gia Kiểm toán Tài chính. Cư trú: Buettelborn, Germany
63/ Nguyễn Ước, Dịch giả. Cư trú: 532 Dufferin St. Toronto, ON, Canada
64/ Phạm Văn Minh, Nhà nghiên cứu Phật giáo (bút hiệu Quán Như), Tác giả sách Vietnamese Engaged Buddhism: The Buddhist Movement of 1963-1966. Cư trú: 85 Slade Road Bardwell Park, NSW 2007, Sydney, Australia
65/ Nguyên Giác Phan Tấn Hải, Nhà nghiên cứu Phật học. Cư trú: California, Hoa Kỳ
66/ Trịnh Hữu Tuệ, Nhà nghiên cứu Ngôn ngữ, NCS TS tại Đại học M.I.T Massachusetts, Mỹ
67/ Dư Thị Hoàn, Nhà thơ. Cư trú: Hải Phòng, Việt Nam
(đến 18 giờ ngày 6/10/2009 – giờ VN)
68/ Phạm Thị Hoài, Nhà văn. Cư trú: Berlin, CHLB Đức
69/ Nguyễn Hồng Hưng, Giảng viên Design Thỉnh giảng khoa Mỹ thuật Công nghiệp, trường Đại học Kiến trúc – Đại học Tôn Đức Thắng - Đại học Văn Lang – Đại học Công nghệ Sài Gòn - Cao đẳng Mỹ thuật Đồng Nai, Việt Nam
70/ Inrasara (Phú Trạm), Nhà thơ, Nhà nghiên cứu Văn hóa Champa. Cư trú: TPHCM, Việt Nam
71/ Lê Mạnh Chiến, Cựu Giảng viên Đại học Mỏ-Địa chất, về hưu, Dịch giả, khảo cứu tự do. Cư trú: Tổ 18, Phường Nghĩa Đô, Hà Nội, Việt Nam
72/ Nguyễn Phượng, Giảng viên khoa Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, Việt Nam
73/ Đào Thái Tôn, Nhà nghiên cứu văn học, viết báo. Cư trú: Hà Nội, Việt Nam
74/ Nguyễn Thanh Sơn, Tiến Sĩ Hóa học. Cư trú: Wiesbaden, CHLB Đức
75/ Quang Hà, Phó Giáo Sư Tiến Sĩ, Đại Học Công Nghệ Sydney, Úc
76/ Le Thi Hoa My, Doanh nhân. Cư trú: Stuttgart, Germany
77/ Đinh Cao Minh, Kỹ sư Tin học. Cư trú: Paris, Pháp
78/ Mai Thái Lĩnh, Nhà giáo nghỉ hưu, Nhà nghiên cứu độc lập.
Cư trú: TP Đà Lạt, Tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam
79/ Lê Viết Bình, TS Hóa học, Cán bộ hưu trí. Cư trú: 28 Tôn Thất Thiệp, Q.1, TPHCM, Việt Nam
80/ Tam Due, Đông y sĩ. Cư trú: California, USA
81/ Nguyễn Xuân Hùng, Kỹ sư Tin học. Cư trú: CHLB Đức
82/ Chánh Minh, Nguyên Kỹ sư Thiết kế về Khí động học (Aerodynamic Design Engineer) cho hãng Boeing trên 30 năm trong địa hạt Hàng không và Không gian. Cư trú: California, Hoa Kỳ
83/ Tran Hung Thinh, Kỹ sư đã nghỉ hưu. Cư trú: Linh Đàm, Đại Kim, Hoàng Mai, Hà Nội, Việt Nam
84/ Nguyễn Hương Trà, trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Việt Nam
85/ Nguyễn Khoa, Saigon-QuiNhon Mineral Corp. Lot B6 Road no5, Nhon Hoi Industrial,
Bình Định, Việt Nam
86/ Trần Đắc Lộc, Cựu Giảng viên ĐHKH Huế. Cư trú: Praha, CH Séc
87/ Pham Thuy Loc (Hiệu: Dieu Phuc), Phật tử chùa Trấn Quốc. Cư trú: Số 273 Thụy Khuê, Hà Nội, Việt Nam
88/ Phạm Cường (bút danh Văn Phạm, Phạm Gia Văn trên mạng Trần Nhương và quê choa), blog Gocomay. Cư trú: CHLB Đức
89/ Thích Nguyên Hùng, Giáo thọ trường Trung cấp Phật học Đồng Nai, Việt Nam
90/ Pham Thi Yen, Bac sỹ, Thầy thuốc Ưu tú (đã nghỉ hưu). Cư trú: Hà Nội, Việt Nam
91/ Le Quoc Tuan, Kỹ sư Tin học. Cư trú: TP Oldenburg, CHLB Đức
92/ Vũ Quang Chính, Nhà lý luận phê bình Điện ảnh. Cư trú: Hà Nội, Việt Nam
93/ Quảng Thanh Tâm, Phật tử. Cư trú: Đà Nẵng, Việt Nam
94/ Le Thi Nguyen Binh, pháp danh Tam Khanh Tu. Cư trú: Quận Hoàng Mai, Hà Nội, Việt Nam
95/ Chan Phuc Dai. Cư trú: Hà Nội, Việt Nam
96/ Phạm Văn Hải, IT Freelance. Cư trú: Nha Trang, Việt Nam
97/ Đặng Vĩnh Lượm, Kỹ sư Điện, Công ty CP Quản Lý Chất Lượng Đầu Tiên (FQM). Cư trú: 181 Điện Biên Phủ P. Đa Kao, Quận 1, TPHCM, Việt Nam
98/ Trần Ngọc Thành. Cư trú: Warszawa, Ba Lan
99/ Phạm Vương Ánh, 63 tuổi, Kỹ sư Kinh tế, Cựu Sỹ quan QĐNDVN, Cán bộ hưu trí, Nguyên Tổ trưởng tổ dân cư số 1, khối Xuân Đông, phường Hưng Dũng, Vinh, Nghệ An, Việt Nam
100/ Vu Hai Long, pháp danh Tinh Long, TSKH Đại học Paris. Cư trú: 26 đường 4 P. Hiệp Bình Chánh, Q. Thủ Đức, TP HCM, Việt Nam
101/ Luu Xuan Trang, Kỹ sư Hoá. Cư trú: TPHCM, Việt Nam
102/ Hồng Kiến Nghĩa, Kỹ sư Kinh tế Nông nghiệp (hưu trí). Cư trú: 489A/23/253 Huỳnh văn Bánh, P.13, Q. Phú Nhuận TPHCM, Việt Nam
103/ Nguyễn Minh Cần, Nhà báo, Phật tử. Cư trú: Moskva, Liên Bang Nga
104/ Thiện Xuân Inna Malkhanova, Phó Giáo Sư trường Đại học Quan hệ Quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Nga, Hội trưởng Hội Phật giáo Thảo Đường. Cư trú: Moskva, LB Nga
105/ Bùi Thị Lan Hương, Nhà báo, Phật tử. Cư trú: Moskva, Liên Bang Nga
106/ Vương Văn Quang, Nhà văn. Cư trú: Sài Gòn, Việt Nam
107/ Lê Chính Duật, Kỹ sư, Microsoft Corporation, Raleigh, North Carolina, USA
108/ Lê Triệu Phong, Nghiên cứu viên, Viện Công nghệ Tokyo, Nhật Bản
109/ Mạc Vương Tôn, viết blog và nghiên cứu Huyền thuật. Cư trú: Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu, Việt Nam
110/ Dương Văn Hiền, Kĩ sư Bảo trì, Rồng Đôi, FSO-MV12. Cư trú: 147, Trần Bình Trọng, Thị xã Lagi, Bình Thuận, Việt Nam
111/ Phan Thế Vấn, Bác sĩ. Cư trú: TPHCM, Việt Nam
112/ Nguyễn Thế Hùng, Giáo sư Đại học Đà Nẵng, Việt Nam
113/ Lê Tuấn Huy, Tiến sỹ. Cư trú: TPHCM, Việt Nam
114/ Trần Đồng Lộc, Sinh viên khoa Lịch sử Đảng Trường ĐHKHXH&NV Hà Nội Việt Nam
115/ Thích Tâm Như, Học sinh trường Trung cấp Phật học thành phố Hà Nội, Việt Nam
116/ Cao Đăng Đức, Chuyên viên Tư vấn ERP, Hà Nội, Việt Nam
117/ Cao Thanh Xuân, Tín đồ Công giáo, Học viên Cao học Đại học Sư phạm Hà Nội, Giáo viên tin học. Cư trú: xã Vinh Kim, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, Việt Nam
118/ Trịnh Thanh Thủy, Nhà văn. Cư trú: California, Hoa Kỳ
119/ Lê Hiếu Đằng, Nguyên Phó Tổng thư ký Uỷ ban Trung ương Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình Việt Nam, Nguyên Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam TP HCM, Nguyên Đại biểu Hội đồng Nhân dân TP HCM các khoá 4 & 5. Cư trú: TPHCM, Việt Nam
120/ Nguyễn Đắc Diên, Bác sĩ chuyên khoa Răng Hàm Mặt. Cư trú: Cư Xá Đô Thành, Quận 3, TPHCM, Việt Nam
121/ Nguyễn Hữu Liêm, Luật sư, Giáo sư Triết học, San Jose City College, California, USA
122/ Nguyễn Thanh Phong, Phật tử, Giảng viên Đại học An Giang, Việt Nam
123/ Hoàng Nguyễn Thụy Khê, Nhân viên Công ty PC Vietnam Ltd. Tp. HCM, Việt Nam
124/ Nguyễn Hải Thanh, Tiểu thương. Cư trú: 429 Lê Lợi, Q.Ngô Quyền, Hải Phòng, Việt Nam
125/ Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh, Tiến sĩ Khoa học Giáo dục Viện ĐH Paris V Sorbonne, Nhà thơ, Nhà nghiên cứu. Cư trú: Pháp
126/ Ngô Thị Nắng Mai, Chuyên viên về hưu. Cư trú: 98 phố Tuệ Tĩnh Hà Nội, Việt Nam
127/ Hoàng Trọng Đài, Giáo viên THPT. Cư trú: Tỉnh Bình Phước, Việt Nam
128/ Trần Ngọc Tuấn, viết văn, viết báo. Cư trú: Praha, Cộng Hòa Séc
129/ Nguyễn Chính (Nguyễn Văn Chính), Luật gia, Nhà báo, PV báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam). Cư trú: Việt Nam
130/ Bùi thế Kỷ, Kỹ sư (hưu trí). Cư trú: 166 phố Minh Khai, Hà Nội, Việt Nam
131/ Vũ Thị Mai Phương (hưu trí). Cư trú: 166 phố Minh Khai, Hà Nội, Việt Nam
132/ Lê Tự Hỷ, Nhà giáo hưu trí. Cư trú: 80/23 Trần Quang Diệu, Q.3 TPHCM, Việt Nam
133/ Nguyễn Đình Khuyến, Hoạ sĩ Tự do. Cư trú: Thôn Nguyên Xá, Xã Minh Khai, Từ Liêm, HN, Việt Nam
134/ Thảo Nguyên, Nhà giáo về hưu. Cư trú: 372 Central Park West, #6J New York, USA
135/ Thanh Do, Sagem – Division optronique et systèmes Aéroterrestres Thermal Camera – Weapon Sight – Optronics Systems Division. Cư trú: 72-74, rue de la Tour Billy, 95101 Argenteuil Cedex, France
136/ Bùi Anh Tuấn, SV trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng, Việt Nam. Cư trú: Phường Đa Phúc, Quận Dương Kinh, TP Hải Phòng, Việt Nam
137/ J.B Nguyễn Hữu Vinh, Kỹ sư Xây dựng, tín đồ Công giáo. Cư trú: Đường Giáp Bát, Hoàng Mai, Hà Nội.
138/ Vĩnh Hảo, Nhà văn. Cư trú: California, Hoa Kỳ
139/ Tuan Duc Truong, College Technology Services – Computer Lab Superviror, California State University East Bay – Concord Campus, USA
140/ Nghiêm Hữu Hạnh, PGS.TS. Nguyên Phó Tổng biên tập tạp chí Nông nghiệp và PTNT. Cư trú: Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam
141/ Vĩnh Tuấn, Nhạc sĩ, Nguyên GS trường Quốc gia Âm nhạc Huế. Cư trú: 33 Lê quý Đôn. Q. 3 TP Hồ Chí Minh, Việt Nam
142/ Phạm Công Lợi, Thạc sĩ Quản trị Tin học, Thảo chương viên Bộ Phục Hồi Nhân Phẩm California, Hoa Kỳ
143/ Lê Hồng Nghiệp, TS Hóa học. Cư trú: 1730 de Montpellier St Bruno Québec J3V 4P5 Canada
144/ Nguyễn Gia Hòa. Cư trú: TPHCM Việt Nam
145/ Phùng Hữu Phú, Nghiên cứu sinh tại ĐH Chalmers, Thụy Điển
146/ Tran Tang Long, PhD Mechanical Engineering. Cư trú: CHLB Duc
147/ Pham Vinh, Phật tử. Cư trú: Orlando Florida USA
148/ Đào Thị Ngọc Trâm, Giáo viên. Cư trú: TPHCM, Việt Nam
149/ Trần Kim Quy, Kỹ sư Điện toán (software Engineer). Cư trú: Fremont, California, USA
150/ Phạm Văn Chính, Kỹ sư CNTT tại Viễn Thông Hà Nội – VNPT. Cư trú: Đường Lĩnh Nam, Quận Hoàng Mai, Hà Nội, Việt Nam
151/ Vũ Thế Cường, Tiến sĩ Cơ khí, hãng BMW, München, CHLB Đức
152/ Nguyễn Ngọc Điệp, Nhân viên Kỹ thuật. Cư trú: Vương quốc Bỉ
153/ Thai Ngoc Hau. Cư trú: Connecticut, Hoa Kỳ
154/ Le Anh Dung, Người Việt Nam không tôn giáo. Cư trú: California, USA
155/ Huỳnh Công Luận, Thạc sĩ Quốc tế Quản trị Kinh doanh. Cư trú: Florida, Hoa Kỳ
156/ Trần Quốc Việt, Kế toán. Cư trú: Florida, Hoa Kỳ
157/ Nguyễn Duy Lâm, Cử nhân Toán học-Tin học, ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQG TPHCM, Việt Nam
158/ Hồ Vĩnh Trực, Kỹ thuật viên Vi tính. Cư trú: 18/13/6 Phan Văn Trị, P2 Q5, TP.HCM, Việt Nam
159/ Trần Thị Trường, Nhà văn. Cư trú: 101 E 4 Vĩnh Hồ Đống Đa Hà Nội, Việt Nam
160/ Hoang Tang Thong, Chuyên viên Cao cấp TCT Điện lực Việt Nam (đã nghỉ hưu). Cư trú: Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam
161/ Tam An Niem, Phật tử thuộc Đạo tràng Chánh Tuệ, Hà Nội, Việt Nam
162/ Nguyen Trong Nghia. Cư trú: Qquận Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam
163/ Tư Đồ Tuệ. Cư trú: Toronto, Canada
164/ Tâm Liên, Phật tử Quán Âm Tu Viện. Cư trú: P.2, Q. Phú Nhuận, TPHCM, Vietnam
165/ Quang Nhã – Hoàng Văn Lang, Huynh trưởng Gia đình Phật tử Việt Nam tại Hoa Kỳ
166/ Lê Văn Tân (bút danh Lê Tân), viết báo, biên tập sách. Nơi cư trú: quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
167/ Dam quoc Khanh (Pháp danh Thien Dao). Cư trú: 320/2c Trần Bình Trọng P4, Q5 TP HCM, Việt Nam
168/ Nguyễn Xuân Thọ, Kỹ sư Truyền thông. Cư trú: Cologne CHLB Đức
169/ Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm, Linh mục Công giáo. Cư trú: 58/1 Phạm Ngọc Thạch, P6, Q3, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam
170/ Nguyễn Minh Phát, Kiến trúc sư. Cư trú: Sài Gòn, Việt Nam
171/ Phan Thị Sám Hối, Pháp danh: Tâm Tịnh, Nhà giáo đã về hưu.
Cư trú: Quận 3, Sài Gòn, Việt Nam.
172/ Nguyễn Đức Quỳnh, Phật tử. Cư trú: Quận 3, Sài Gòn, Việt Nam.
173/ Xà Quế Châu, Đầu bếp. Cư trú: 173/23/89 Khuông Việt, Phú Trung, Tân Phú TPHCM, Việt Nam
174/ Nguyễn Văn Hiển, TS, Giảng viên Đại học Bách khoa Hà Nội, Việt Nam
175/ Nguyễn Ngọc Hòa, Sinh viên trường Đại học Humboldt, Berlin, CHLB Đức
(đến 16 giờ ngày 9/10/2009 – giờ VN)
176/ Nghĩa – Hà, nhà văn. Cư trú: Oldenburger Str.35, 10551 Berlin, CHLB Đức
177/ Trương Hồng Quang, Tiến sỹ Văn chương. Cư trú: Berlin, CHLB Đức
178/ Tạ Duy Anh, Nhà văn. Cư trú: Hà Nội, Việt Nam
179/ Tâm Minh Quang, Engaging Buddhist Group of Australia
180/ Tâm Thông Tuệ, Engaging Buddhist Group of Australia
181/ Tâm Hộ Trì, Engaging Buddhist Group of Australia
182/ Lê Văn Hiền, Engaging Buddhist Group of Australia
183/ Chân Hỷ Sơn, Engaging Buddhist Group of Australia
184/ Chân Hỷ Quang, Engaging Buddhist Group of Australia
185/ Chân Hỷ Giang, Engaging Buddhist Group of Australia
186/ Chân Hỷ Điền, Engaging Buddhist Group of Australia
187/ Tâm Như Ngọc, Engaging Buddhist Group of Australia
188/ Chân Minh Đăng, Engaging Buddhist Group of Australia
189/ Nguyễn Kim Sơn, 74 tuổi, Pháp danh Nhật Định, Kỹ sư hưu trí, trú tại thành phố Juelich, Germany
190/ Nguyen Ngoc Thanh, Tiến sĩ, Đại học Sư Phạm TP HCM, Việt Nam
191/ Dong Thi Kim Chi, Nguyên Giảng viên Đại học Sư Phạm TPHCM và Cán bộ chuyên môn Phòng Giáo dục Quận Bình Thạnh, TPHCM, Việt Nam
192/ Hà Văn Thùy, Nhà văn. Cư trú: 184 Lê Lư, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
193/ Nguyen Ngoc Diep. Cư trú: Meulestee 17 8310 Assebroek, Belgium
194/ Phan Ngọc Lâm, Luật sư. Cư trú: Everett, Washington, USA
195/ Nguyễn Công Huân, Trường đại học Aalborg, Đan Mạch
196/ Nguyễn Minh Nguyệt, 68 tuổi đời, 46 tuổi Đảng, Nguyên Giảng viên khoa Sinh học, Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội đã nghỉ hưu. Cư trú: Hà Nội, Việt Nam
197/ Trinh Quoc Thuan, Ph.D. Cư trú: 209 Tulip Drive Gaithersburg, MD 20877USA
198/ Ngô Hải, NCS Vật lý. Cư trú: MPI fuer Physik, Munich, CHLB Đức
199/ Đặng Lợi Minh, Giáo viên cấp 3 đã về hưu. Cư trú: Hải Phòng, Việt Nam
200/ Trần Ngọc Khoa, Kỹ sư Công nghệ Thông tin. Cư trú: Washington, DC, USA
201/ Phan Thanh Hải, Luật gia. Cư trú: quận Bình Thạnh, TPHCM, Việt Nam
202/ Nhã Nam, viết báo tự do. Cư trú: Saigon, Việt Nam
203/ Giuse Nguyễn Văn Được, Tín đồ Công giáo Nhà thờ Làng Tám Hà Nội, Việt Nam
204/ Vixente Nguyễn Văn Viễn, Tín đồ Công giáo Hải Phòng, Việt Nam
205/ Terexa Hồ Sinh Nhật, Tín đồ Công giáo Hà Nội, Việt Nam
206/ Maria Phạm Thị Chi, Tín đồ Công giáo Hải Phòng, Việt Nam
207/ Thùy Linh, Nhà văn. Cư trú: Hà Nội, Việt Nam
208/ Phạm Quốc Bình, Cử nhân Điện toán và Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh, Sugar Land, Texas, USA
209/ Thích Giác Lượng, Hòa thượng, Pháp Duyên Tịnh Xá, San Jose, California, USA
210/ Trần Nhu, Nhà nghiên cứu Phật giáo, Pháp Duyên Tịnh Xá, San Jose, California, USA
211/ Bùi Minh, Cư sĩ Phật giáo, San Jose, California, USA
212/ Maria Nguyễn Thị Thanh Hoa, Giáo viên trường PT Quốc tế, TPHCM, Việt Nam
213/ Maria Nguyễn Thị Ngọc Mai, Kế toán. Cư trú: Vinh, Nghệ An, Việt Nam
214/ Anton Nguyễn Bảo Năng, Sinh viên. Cư trú: TPHCM, Việt Nam
215/ Nguyễn Bảo Trình, Sinh viên. Cư trú: TPHCM, Việt Nam
216/ Giuse Nguyễn Quốc Việt, Học sinh. Cư trú: TPHCM, Việt Nam
217/ Tâm Huệ – Trần Quan Anh Nhật, Huynh trưởng GĐPT tại Miền Quảng Đức, Hoa Kỳ. Cư trú: 744 Etiwanda Ave , Apt. 5, Northridge, CA 91325
218/ Le Nguyen Binh, Bác sĩ, PTS Y khoa, Hà Nội, Việt Nam
219/ Nguyễn Thị Khánh Trâm, Nghiên cứu viên Phân viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại TPHCM, Việt Nam
220/ Huỳnh Văn Ngãi, Đại học Quy Nhơn, Việt Nam
211/ Nguyễn Thụy Khanh, Sinh viên ĐH Xã hội & Nhân Văn TPHCM, Việt Nam
212/ Frédéric Phạm, Nhà toán học, Giáo sư (về hưu) ở TĐH Nice (Pháp), Tiến sĩ Danh dự Viện Khoa Học Việt Nam, Tiến sĩ Danh dự Trường ĐH Đà Lạt, Việt Nam
213/ Ta Duy Binh, Kịch tác gia, Sydney Australia
214/ Cu Thanh Thuy, Graphic Designer, Sydney Australia
215/ Phạm Khắc Hưng, Lập trình viên. Cư trú: Q12, TPHCM, Việt Nam
216/ Trường Giang, Nguyên TBT báo Giáo dục & Thời đại, Hà Nội, Việt Nam
217/ Dang Anh Thanh, Giáo viên tại TPHCM, Việt Nam
218/ Trần Mai Tuấn, Phật tử. Cư trú: Michigan, USA
219/ Hoàng Thị Tơ, Phật tử. Cư trú: Michigan, USA
220/ Trần Mai Hiến Lê, Sinh viên trường GRCC, Michigan, USA.
221/ Bạch X. Phe, Giáo viên Trung học Sacramento, CA 95829, USA
222/ Hoa Phạm, Sinh viên trường HSL Kottenpark, Enschede Hà Lan
223/ Pham Van Phu, Bác sĩ, Stuttgart, CHLB Đức
224/ Nguyễn Văn Hải, Nguyên Trưởng Phân xã TTX Việt Nam tại tỉnh Tiền Giang. Cư trú: Phường 1, TP. Mỹ Tho, Tiền Giang, Việt Nam
225/ Tô Đình Hải, Kỹ sư Điện toán, Stuttgart, CHLB Duc
226/ Tam Canh (Lê Chiến Thắng), Chuyên viên Kỹ thuật Nhiếp ảnh, về hưu. Cư trú: Stuttgart, CHLB Đức
227/ Nguyen Le Dieu Tu, Bác sỹ Y khoa tại CHLB Đức
228/ Luong Minh Hai, Bác sỹ Nha khoa tại CHLB Đức
229/ Nguyễn Ngọc Giao, dạy học & làm báo tại Paris, Pháp
230/ Lê Đình Quốc Lân, trình độ Đại học. Cư trú: Đà Nẵng, Việt Nam
231/ Phạm Xuân Huy, Phật tử. Cư trú: Khu Văn hoá Nghệ thuật Mai Dịch-phường Mai Dịch-Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
232/ Đoàn Sĩ Toàn, Nhà giáo, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam
233/ Van-Duc Nguyen, PhD, Computer Scientist and Principal at Hermes Microvision Inc, GE R&D, MIT AI Lab. 5153 Springdale Ave, Pleasanton CA 94588, USA
234/ Phan Van Tú, Kỹ sư Môi trường, Hà Nội, Việt Nam
235/ Nguyễn Hoàng Nam, SV khoa Triết, ĐH Sư phạm TPHCM, VN
236/ Lê Bích Tuyền – SV ĐH XH&NV TPHCM, VN
237/ Trần Đức Tín – SV ĐH XH&NV TPHCM, VN
238/ Nguyễn Duy Nhạc, Công chức, Melbourne, Australia
239/ Lê Diễn Đức, Nhà báo tại Warszawa, Ba Lan
(đến 16 giờ ngày 11/ 10/ 2009 – giờ VN)
240/ Huỳnh Nhật Hải, Nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP Đà Lạt, Lâm Đồng, VN
241/ Huỳnh Nhật Tấn, Nguyên Phó Giám đốc Trường Đảng Tỉnh Lâm Đồng, VN
242/ Doan L. Phung, President, PAI Corporation, Oak Ridge, Tennessee, USA
243/ Nguyễn Ngọc Sơn (bút danh Đông Phong). Cư trú: Phố Hoàng Ngân, Phường Nhân Chính, Quận Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam.
244/ Ngô Thị Hạnh, Phòng KH & Truyền Thông-Cty Sách Phương Nam, TPHCM, Việt Nam
245/ Hà Dương Tuấn, Chuyên gia Công nghệ Thông tin, đã nghỉ hưu. Cư trú: Antony, Pháp
246/ Thích Pháp Tuệ, Tu sỹ ở tỉnh Đồng Nai, Việt Nam
247/ Lê Trung Thành. Cư trú: Đài Bắc, Đài Loan
248/ Mai Anh Vũ, Phật tử. Cư trú: 19 Hàng Vôi, Hà Nội, Việt Nam
249/ Hà Minh Hiển, Pháp danh Thích Viên Đức, Hội trưởng Hội người CVN tại Ba Lan yêu Đạo Phật, Ba Lan
250/ Nguyễn Duy Vinh, Tiến Sĩ ngành Khí Lực Học (Aerodynamics), Fellow của Canadian Aeronautics and Space Institute, về hưu, hiện cư ngụ tại Canada
251/ Nguyen Duc, Phật tử cư trú tại Hà Lan
252/ Nguyễn Huy Tường. Cư trú: Nha Trang, Khánh Hoà, Việt Nam
253/ Đặng Văn Ba, Tiến sĩ Khoa học, Nguyên Giám đốc Bộ Tin học Tổ chức Quốc tế Viễn thông (I.T.U). Cư trú: Geneva, Thuỵ Sĩ.
254/ Nguyen Ngoc Loan, Nhà giáo, Melbourne, Úc Châu
255/ Nguyen Van Quang, Công dân Úc Châu
256/ Nguyen Hoan Hao, Nội trợ, cư trú tại Úc Châu
257/ Nguyen Van Huy, MAB, Chuamotcot PTY, LTD, Melbourne, Úc Châu
258/ Nguyen T Thach, Quantity Surveyor, Melbourne, Úc Châu
259/ Nguyen Van Andy, IT expert, Melbourne, Úc Châu
260/ Nguyen Renee, Học sinh VCE, Melbourne, Úc Châu
261/ Nguyen Minh Tue, Giáo sư, ĐHSP Sài Gòn, tốt nghiệp ĐH RMIT, ĐH La Trobe, Victoria, Úc Châu
262/ Trần Viết Huân, Chuyên viên CNTT, TPHCM, Việt Nam
263/ Khanh Nguyen, Tổng cục Hàng không Liên bang (Federal Aviation Administration) USA
264/ Lê Vinh Ngọc Hoa, Sinh viên tại UK
265/ Nguyễn Thu Hằng, Bác sĩ tại Paris, Pháp
266/ Phan Việt Quốc, Kỹ sư, Công ty Boeing, WA 98188 USA
267/ Trần Thu Thủy, Nội trợ. Cư trú: Am Stadtpark 6 92237 Sulzbach-Rosenberg CHLB Đức
268/ Hồ Kim Sơn, Cử nhân Khoa học Vi tính, hiện ở Hoa Kỳ
269/ Phan Nhu Nguyet, Giám đốc Nhà Xuất bản Tuệ Quang, Washington DC, USA
270/ Tô Hoài Nam, ngụ tại 59 Đống Đa TP Nha Trang, Việt Nam
271/ Hà Thúc Huy, PGS.TS, Đại học Khoa học – Đại học Quốc Gia TPHCM, VN
272/ Phạm Hồng Sơn, Bác sỹ. Địa chỉ: 72 B Thụy Khuê, Hà Nội, VN
273/ Phillip Tran, Bác sĩ, nghiên cứu y học lâm sàng tại ĐH Y khoa UCSD, San Diego Hoa Kỳ
274/ Nguyên Ngọc, nhà văn, Hà Nội, VN
275/ Nguyễn Đoàn Tuyết Ly, Cty TNHH Máy CC & TB T.A.T, Số 1 Xa lộ Hà Nội, P. Thảo Điền, Q.2, TPHCM, VN
276/ Nguyên Van Tao, Tiến sĩ Khoa học Vật lý Pháp, Nghiên cứu viên và Giám đốc hãng SARTECH, 110 route des Grands-Près 74350 Copponex France
277/ Trần Quang Ngọc, Tiến sĩ Kỹ sư Điện, Công ty Robert Bosch, Stuttgart, CHLB Đức
278/ Nguyen Thi Thanh Thanh, Nội trợ, Phật tử ở TP Biên Hoà, Việt Nam
279/ Nguyen Phuong Trinh, Học sinh, TP Biên Hoà, Việt Nam
280/ Nga Nguyễn, Kỹ sư Điện toán tại CHLB Đức
281/ Ngô Quyền (Ngô Duy Quyền), thường trú tại xã Xuân Cẩm, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang, VN
282/ Nguyen Thi Cam Thi, TS Sinh học Phân tử, Paris, Pháp
282/ Trịnh thị Lang, Cử nhân Sinh học Nông nghiệp (hưu trí), Stuttgart Germany
283/ Bùi Hữu Tường, Bác sỹ Y khoa, tỉnh Mönchengladbach, CHLB Đức
284/ Ly Do Gia, Hà Nội, Việt Nam
285/ Huỳnh Thế Phùng, ĐHKH Huế, Việt Nam
286/ Thai Triet, Sinh viên University of North Texas, TX, USA
287/ Nguyen Van Hung, Bác sĩ Khoa Bệnh Tim và Mạch máu, Bệnh viện Đa khoa Périgueux, Dordogne, France
288/ Phan Công Tuấn, Lương y, Phó TBT Tạp chí Cây Thuốc Quý, Cẩm Lệ, Đà Nẵng, VN
(đến 18 giờ 14/ 10/ 2009)
289/ Trương Thế Kỷ, Kỹ sư Cơ khí, hãng BMW, Munich, CHLB Đức
290/ Nguyễn Vũ, Kỹ sư. Cư trú: 284/26 Lê Văn Sỹ, P.14, Q.3, TP. HCM
291/ Khương Quang Đính, Chuyên gia Tin học, Paris, Pháp.
292/ Nguyễn Đức Tùng, Bác sĩ, Nhà thơ, Canada
293/ Nguyen Thien, Ky su Điện toán, Edmonds WA, USA 98020
294/ Chu Sơn, làm thơ, viết văn, cư ngụ tại thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
295/ Lê Thành Chung, Kỹ sư Tin học, Ngân hàng Tiểu bang Berlin (Landesbank Berlin AG) CHLB Ðức
296/ Trần Tuấn Dũng, Hưu trí, Nguyên Chuyên viên Điện toán & Quản Lý. Cư trú: 4817 Lalande Blvd, Montreal, Quebec, Canada H8Y 3H4
297/ Lê Văn Hưng. Cư trú: Huyện Diên Khánh Tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam
298/ Tran Cong Thang, Bác sĩ Y khoa định cư tại Na Uy
299/ Lê Mai, Kỹ sư Thực phẩm, Heidelberg, CHLB Đức
300/ Đoàn Minh Hóa, Chủ nhiệm & Chủ bút Tạp chí Đi Tới), Montréal, Québec, Canada
301/ Trần Ngọc Khoa, Kỹ sư Công nghệ Thông tin, Washington, DC, USA
302/ Đinh Tuấn Minh, Nhà nghiên cứu kinh tế Độc lập, Hà Nội, Việt Nam
303/ Trần Nguơn Phiêu, Y khoa Bác sĩ, hồi hưu. Địa chỉ: Amarillo, Texas, USA
304/ Bùi Xuân Bách, Giáo viên nghỉ hưu. Cư trú: Boston, MA, USA
305/ Trần Quốc Hiệp, Network Engineer, 92160, Antony, France
306/ Nguyễn Lưu. Geerten Gossaertpad 33 -1321 TG, Almere, Hà Lan
307/ Tran Thu, Western Australia
308/ Đỗ Quốc Thắng, Sinh viên. Cư trú: P2, Q4, Sài Gòn, Việt Nam
309/ Nguyễn Thị Mai, Cử nhân Tin học. Cư trú: Bình Thạnh, TPHCM, Việt Nam
310/ Phan Thị Hoàng Oanh, Giảng viên ĐH Sư phạm TPHCM, Việt Nam
311/ Lê Văn Chính, Kỹ sư, Cố vấn Kỹ thuật Soncamedia, 15 Mai Thị Lựu, Q.1, TPHCM, VN
312/ Lê Chính Duật, Kỹ sư, Microsoft Corporation. Raleigh, North Carolina, USA
313/ Trần Hoàng Phương, Sinh viên ngành Xây dựng, trường Technical University of Munich (TUM). Adelheidstraße 17, Zimmer 108, Munich, CHLB Đức
314/ Mạnh Kim, Dịch giả báo chí tự do, Sài Gòn, Việt Nam
315/ Giuse Nguyen Gia Quoc, Giáo xứ Thanh Anna-Giuse Hien, Minnesota, Hoa Ky
316/ Thích Thanh Thắng, Uỷ viên Ban Văn hoá Trung ương GHPGVN. Chùa Giác
Tâm, 59/8C Thuận Kiều, Phường 12, Quận 5, TPHCM, Việt Nam
317/ Mai Dang Duc. Cư trú: Paris, France
318/ Huỳnh Văn Hoa, Thạc sĩ, dịch sách, viết báo. Cư trú: 200/8 Hoàng Diệu, Đà Nẵng, VN
319/ Chân Huyền Đỗ Quyên, Cư sĩ Phật tử ở Canada
320/ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nhà văn. Cư trú tại Virginia, Hoa Kỳ
321/ Lê Nguyên, Nhà báo. Cư trú tại Paris, Pháp
322/ Phạm Tường An, Ph.D. Khoa học gia. Cư trú: California, USA
323/ Trần Thị Quỳnh Vi, Luật sư ở Menlo Park, California, Hoa Kỳ
324/ Xuandai Hoang, Member Services Coordinator, ISPE Member Services Department, International Society for Pharmaceutical Engineering, Inc.
3109 W. Dr Martin Luther King Jr. Blvd. Ste 250, Tampa, FL 33607, USA
325/ Nguyen Xuan Tung, Nguyên Giảng sư, Giáo sư các trường Trung học Bồ Đề Qui Nhơn, Nguyên Thiều. Cư trú: Gardena, California, Hoa Kỳ
326) Nguyen Quoc Viet, Kỹ sư Điện tử, Võ sư môn phái Binh Thai Dao (võ Bình Định) ở Oceanside, CA, Hoa Kỳ
327/ Nguyen The Duc, Giáo sư, Kỹ sư Điện tử, Cố vấn Tài Chánh Địa ốc ở West Hollywood, CA, Hoa Kỳ
328/ Trinh My Van, Pháp danh Tam Thanh Tru. Cư trú: Los Angeles, CA, Hoa Kỳ
329/ Tran Thi Sau. Cư trú: West Covina, CA, Hoa Kỳ
330/ Chu Thi Du, Pháp danh Dieu Thuong. Cư trú: Gardena, CA, Hoa Kỳ
331/ Staci Nguyen, Quản trị Kinh doanh, San Diego, CA, Hoa Kỳ
332/ Everlyn Nguyen. Cư trú: Santa Ana, CA, Hoa Kỳ
333/ Dennis Nguyen, Sinh viên Đại học Calif. State Northridge, CA, Hoa Kỳ
334/ Sonya Nguyen, Sinh viên Đại học UC Berkerly, CA, Hoa Kỳ
335/ Vo Hiep, Kĩ sư Cầu đường, Los Angeles, California, Hoa Kỳ
336/ Vo Hung, Tiến sĩ Dược khoa, Yorba Linda, California, Hoa Kỳ
337/ Vo Han, Sinh viên Y khoa, University of Toledo, Ohio, Hoa Kỳ
338/ Tôn Vân Anh. Cư trú: Warsaw, Ba Lan
339/ Nguyễn Công Đức. Cư trú: Irving,Texas, USA
340/ Đỗ Thành Tiên, Pháp danh: Tịnh Hải. Cư trú: 110/18 Đường số 4 – KP6 – P. Hiệp Bình Phước – Q.Thủ Đức, TPHCM, Việt Nam
341/ Thiện Hiền. Cư trú: Bentonville, Arkansas, USA
342/ Phạm Tư Thanh Thiện, nhà báo, Paris, Pháp
(đến 24 giờ ngày 15/10/2009 – giờ VN)
343/ Nguyễn Hoài Nam, Kĩ sư cơ khí, Paris, Pháp
344/ Hà Văn Thịnh, Giảng viên khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Huế, VN
345/ Hồ Văn Lý, Kỹ sư. Hiện đang cư trú: Quận 3, TP.Hồ Chí Minh, VN
346/ Dinh Tri, Tín đồ Công Giáo. Cư trú tại Georgia Hoa Kỳ
347/ Dang Thi Di, Tín đồ Công Giáo. Cư trú tại Georgia Hoa Kỳ
348/ Nhan Nguyen, Budget Fiscal Analyst, University of Washington, USA
349/ Nguyễn Gia Định, Khoa Toán, Trường Đại học Khoa học Huế, VN
350/ Đỗ Minh Tuấn, Nhà thơ, Đạo diễn Điện ảnh. Cư trú tại Hà Nội, Việt Nam
351/ Vu Trong Nga, Sinh viên trường ĐH Xây Dựng, 55 Giải Phóng, Hà Nội, VN
352/ Võ Văn Giáp, Kỹ sư Cơ khí, Công ty SNC-Lavalin, Toronto, Canada
353/ Nguyễn Đức Huy, Thành viên Sangha Nắng Mai Hồng, Tiểu bang Nordrhein-Westfalen, Cộng Hòa Liên Bang Đức
354/ Trần Phước Chung, Đông y sĩ. Địa chỉ: xã Suối Cát, huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai, VN.
355/ VanLang Do, NSW, Australia
356/ Co Do, NSW, Aus
357/ Nga Nguyen, NSW, Aus
358/ Kim Do, NSW, Aus
359/ Thuy-Grey Hinwood, NSW, Aus
360/ Quynh Mai Do Fourbert, Switzerland
361/ Anne Do, Pensylvania, USA
362/ Bat Do, Pensylvania, USA
363/ Ngoc Dang Do, Pensylvania, USA
364/ Anh Do, Germany
365/ Thanh Do, San Jose, USA
366/ Thai Hoang Do, San Jose, USA
367/ Tran Hoang Do, San Jose, USA
368/ Nguyễn Minh Hải, Sinh viên đại học Khoa học Xã hội Nhân văn TPHCM, VN, Việt Nam
369/ Nguyễn Thị Phương Anh, Giáo viên. Nơi cư trú: TPHCM, VN
370/ Dương Văn Thanh, Kỹ sư Điện tử Hàng không. Cư trú: Hoa Kỳ
371/ Dong Nhat, Tu sĩ, Tu Viện Huong Hai, 2321 sw 127 ave, Davie, Florida, 33325 USA
372/ Nguyễn Vy Thanh, Kỹ sư điện tử, Arizona, USA
373/ Chân Hằng Hương, Kỹ thuật viên về hưu, Arizona, USA
374/ Ha Ton, cư ngụ tại California, Hoa Kỳ
375/ Vo Huyen Chau, Giáo sư về hưu, ngụ tại Maryland, Hoa Kỳ
376/ Nguyễn Quốc Thắng (Bút hiệu Huyền Lam), Chuyên viên Thiết kế Phần Mềm trong ứng dụng môi trường, ngụ tại Bellevue, Washington, USA
377/ Phan Quốc Tuyên, Công chức Liên minh Viễn Thông Quốc Tế (ITU), Geneva, Switzerland
378/ Lê Phương An, Học sinh. Nơi cư trú: TPHCM, Việt Nam
379/ Lê Thế Hàm, Học sinh. Nơi cư trú: TPHCM, Việt Nam
380/ ThanhMy Nguyen, M.D., Waters Medical Clinic, Tampa, Florida, USA
381/ Trần Kim Long, Kỹ sư điện. Cư trú: 498 Clauser Dive, Milpitas, CA 95035, USA
382/ Tran A Tuan, Phật tử. Cư trú: Tampa, Florida, USA
383/ Thomas Le, Design Electronic Engineer. Cư trú: San Jose, California, USA
384/ Truong Thang, TS, Nghiên cứu Virus, Viện Vệ sinh Dịch tễ, Hà Nội, Việt Nam
385/ Cao Ngan. Cư ngụ: Sydney, NSW, Australia
386/ Nguyen Thien Giac. Cư ngụ: Sydney, NSW, Australia
387/ Dieu Huyen, Phật tử, Giáo viên, làm du lịch, viết sách. Cư trú: TPHCM, Việt Nam
388/ Tâm Trí Pháp, Phiên dịch viên, Phật tử. Địa chỉ: Văn Miếu, Hà Nội, Việt Nam
389/ Diệu Tâm,Quản lý Kinh doanh, Phật tử. Địa chỉ: Tây Hồ, Hà Nội, Việt Nam
390/ Tâm Khánh Phương, Phật tử. Địa chỉ: Nam Định, Việt Nam
391/ Tâm Tĩnh An, Giảng viên, Phật tử. Địa chỉ: Hai Bà Trưng, Hà Nội, Việt Nam
392/ ĐH Nhật Thiện Nguyễn, Cán bộ Tài chánh Cộng Hoà Pháp, Paris, Pháp
393/ Do Kim Van. Cư trú: Connecticut, Hoa Kỳ
394/ Pham Tuong Vi. Cư trú: Connecticut, Hoa Kỳ
395/ Do Khac Hai. Cư trú: Connecticut, Hoa Kỳ
DANH SÁCH ĐẶC BIỆT (SPECIAL LIST):
Những người nước ngoài ghi tên ủng hộ Thư Thỉnh nguyện (Foreigner Supporters):
1/ Gabriella Ferrari, via Dei Sales 16, 38080 Carisolo Tn, Italy
2/ Mai Nghiêm, Buddist Nun (Nữ tu sĩ Phật giáo người Pháp), Paris, France
3/ Paul Hoover, Poet and Professor of Creative Writing (Nhà thơ & Giáo sư khoa Sáng tác Văn học), San Francisco State University, USA
4/ Macario Tiu, Doctor, Professor (GSTS), Ateneo de Davao University, Davao City, Philippines
5/ Inez Baranay, Free-lance Writer (Nhà văn, Nhà báo Tự do), Australia
6/ Gwen Coronado, Real Estate Broker/Property Manager (Kinh doanh Địa ốc & Quản lý Tài sản), San Diego, CA 92121, USA
7/ Erik Bergqvist, Writer & Critic (Nhà văn & Nhà phê bình), Kalmgatan 13A, 121 45 Johanneshov, Sweden
8/ Todd Fredson, Writer and Researcher at Read Right Systems (Nhà văn & Nghiên cứu viên về Hệ thống Quyền Đọc sách) , Shelton, WA, USA
9/ Peter Hale, Allen Ginsberg Estate (Thư ký Di sản Allen Ginsberg), New York, USA
10/ Nicholas Jose, Visiting Chair of Australian Studies (Trưởng Bộ môn Nghiên cứu Australia – Thỉnh giảng), Harvard University, Department of English, Cambridge, MA, USA
11/ Roy Strider, Amnesty International Estonia (Tổ chức Ân xá Quốc tế của Estonia), Musta talu, Mustakurmu küla, Ahja vald 63707 Põlvamaa Estonia
12/ Catherine Hulbert, Free-lance Writer (Nhà văn, Nhà báo Tự do), 41 Leffert Road, Trumbull, CT USA
.
Sáng tác: Phạm Thế Mỹ
Trình bày: Duy Khánh
Một bông hồng cho em
Một bông hồng cho anh
Và một bông hồng cho những ai
Cho những ai đang còn mẹ
Đang còn mẹ để lòng vui sướng hơn
Rủi mai này mẹ hiền có mất đi
Như đóa hoa không mặt trời
Như trẻ thơ không nụ cười
Như đời mình không lớn khôn thêm
Như bầu trời thiếu ánh sao đêm
Mẹ, mẹ là giòng suối dịu hiền
Mẹ, mẹ là bài hát thần tiên
Là bóng mát trên cao
Là mắt sáng trăng sao
Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối
Mẹ, mẹ là lọn mía ngọt ngào
Mẹ, mẹ là nải chuối buồng cau
Là tiếng dế đêm thâu
Là nắng ấm nương dâu
Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời
Rồi một chiều nào đó anh về nhìn mẹ yêu, nhìn thật lâu
Rồi nói, nói với mẹ rằng: Mẹ ơi, mẹ ơi, mẹ có biết hay không ?
Biết gì ? Biết là, biết là con thương Mẹ không ?
Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh
Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em
Thì xin anh, thì xin em
Hãy cùng tôi vui sướng đi
Hãy cùng tôi vui sướng đi
(Nghe nhạc phẩm này qua giọng hát của Khánh Ly)
.
Trong hơn một năm qua, những sự kiện liên tiếp xảy ra ở Giáo xứ Thái Hà (Hà Nội), Giáo xứ An Bằng (Huế), Tu viện dòng Thánh Phao-Lô (Vĩnh Long), Tu viện Bát Nhã (Bảo Lộc) và mới đây nhất là Giáo xứ Tam Tòa (Quảng Bình) đã gây không ít quan ngại cho những ai quan tâm đến vấn đề Tôn giáo và Tín ngưỡng ở Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, xin giới thiệu bài tham luận
Trường Đại học Khoa học Huế
Thiên Chúa giáo du nhập vào Việt Nam từ năm 1533, đây không chỉ là vấn đề thuần túy của tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa mà là vấn đề chính trị-xã hội rất nhạy cảm qua các thời kỳ lịch sử có chế độ chính trị khác nhau. Tính độc tôn và tính kiêu hãnh của Thiên chúa giáo cùng những nghi thức mang tính tương khắc với văn hóa truyền thống và sự lạm dụng chính trị của các thế lực bên ngoài đối với Thiên chúa giáo là nguyên nhân dẫn đến các chính sách đối với Thiên chúa giáo của nhà cầm quyền Việt Nam trong đó có triều Nguyễn.
Những người truyền giáo cho rằng chi phái Cơ đốc truyền vào Việt Nam là dòng chính thống trực thuộc tòa thánh La Mã, đại diện cho sự ưu việt và tính hoàn vũ nhất so với bất kỳ tôn giáo nào. Nên việc truyền giáo và bảo vệ đạo là nhiệm vụ thiêng liêng của nhân loại văn minh, họ không những không muốn thỏa hiệp với bất cứ tôn giáo nào mà phải xóa sạch các tôn giáo bản địa để xây dựng một Thiên chúa giáo độc tôn, một đức tin tuyệt đối về Chúa. Do vậy, họ đưa ra các điều cấm kỵ như cấm lạy xác người chết, cấm dâng hương đốt nến cho người chết, cấm đọc văn tế, cấm mặc tang phục. Những định hướng và giải pháp mang tính siêu hình và cưỡng chế nói trên đã chạm mạnh vào tư tưởng dân tộc và văn hóa truyền thống nên dễ gây ngộ nhận, kích động dẫn đến chính sách kỳ thị, cấm đạo của triều đình nhà Nguyễn và được đông đảo nhân dân vốn mang nặng tính ngưỡng sùng bái tổ tiên đồng tình ủng hộ.
1. Triều Gia Long (1802 – 1819)
Trong các vua triều Nguyễn ở thời kỳ tự chủ, Gia Long là người rất có thiện chí với Thiên chúa giáo nhưng ông vẫn chủ trương bảo vệ Nho giáo và nghi lễ thờ cúng tổ tiên; ông cũng cho rằng địa ngục, thiên đàng của luận thuyết Thiên chúa giáo là sự dị đoan chỉ làm mê hoặc, quyến rũ những người thiếu hiểu biết[1].
Nhưng quan điểm của vua Gia Long cho rằng người theo Thiên chúa giáo cũng là công dân nếu họ không tin tưởng vào thờ cúng tổ tiên và các thần linh thì cũng không nên cấm đoán họ[2].
Không một lệnh cấm đạo nào được ban hành dưới thời Gia Long, các giáo sĩ đều cho rằng đây là giai đoạn thuận lợi cho việc truyền giáo ở Việt Nam.
Tuy nhiên, Gia Long vẫn thấy nguy cơ về mất chủ quyền mỗi khi cơ hội đến với phương Tây thông qua con đường bảo vệ đạo Thiên chúa nên ông căn dặn người kế vị (Minh Mạng) không nên đối xử phân biệt giữa các đạo Nho, Phật, Thiên chúa giáo. Việc khủng bố tôn giáo sẽ là nguyên nhân dẫn đến các biến động xã hội và gây ra thù oán trong nhân dân; đôi khi làm sụp đổ cả ngôi vua.
2. Triều Minh Mạng (1820-1840)
Chọn Minh Mạng kế vị, Gia Long đã nhận thấy được khả năng quyết đoán của một con người cứng rắn có thể giải quyết các công việc phức tạp của triều đình, đặc biệt là đối với phương Tây trong đó có vấn đề truyền giáo luôn làm cho nhà vua trăn trở, âu lo.
Năm 1824, chính phủ Pháp cử J. B. Chaigneau sang Huế để duy trì hoạt động ngoại giao có từ thời Gia Long. Năm đó, có một tàu Pháp đến Đà Nẵng mang thư và lễ vật của vua Pháp gửi đến vua Minh Mạng nhưng bị Minh Mạng từ chối, một số giáo sĩ nhân đó trốn lên được đất liền để truyền giáo.
Năm 1825, vua Minh Mạng ban hành dụ cấm đạo: “Các tôn giáo sai trái của người Tây Dương làm hư hỏng lòng người. Đã từ lâu nhiều tàu Tây Dương đến đây buôn bán và đã để lại các đạo trưởng trong vương quốc này. Các đạo trưởng đã lôi kéo và làm hỏng nhân tâm, làm suy thoái thuần phong mỹ tục. Đó chẳng phải tai họa lớn cho đất nước. Vậy phải chống lại sự lạm dụng này để đưa dân chúng trở lại con đường chính… phải canh phòng cẩn thận mặt hải cảng, miền núi, tất cả mọi ngả đường thủy bộ để ngăn không cho các đạo trưởng Tây Dương xâm nhập lén lút, trà trộn vào dân chúng để gieo rắc bóng đen trên vương quốc”[3]. (?) õ hoạt động truyền giáo, Minh Mạng lệnh cho các giáo sĩ về kinh đô Huế lấy cớ là để dịch sách.
Năm 1831, chính phủ Pháp cử một tàu đến Huế đặt lại quan hệ ngoại giao nhưng bị vua Minh Mạng cự tuyệt. Những động thái đối ngoại đầy kiêu kỳ này của Minh Mạng đã gây sự phản ứng cho nhiều giới chức Pháp.
Năm 1832, Minh Mạng ra dụ: “Cái thuyết thiên đường, tóm lại chỉ là chuyện hoang đường, không có bằng chứng. Hơn nữa nếu không kính thần minh, không thờ tiên tổ thì rất trái với chính đạo. Những việc trái luân lý, hại phong hóa, điều ấy kể ra còn nhiều, thực đã phạm đến pháp luật. Đạo ấy quy là tà đạo hơn đạo nào hết”[4].
Năm 1832, nhân vụ giáo sĩ người Pháp có tên là Phạm Văn Kinh ở họ đạo Dương Sơn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên bí mật truyền đạo, cầu kinh. Quan phủ Thừa Thiên nhiều lần gọi đến công đường khuyến cáo nhưng không một ai chịu bỏ đạo. Năm đó, Minh Mạng ra lệnh cho các quan tỉnh “ khuyến cáo bỏ đạo, ai thành thực bước qua cây Thập tự thì miễn tội, nhà thờ, nhà giảng cho hủy diệt đi, ai cố tình không tuân bị tội nặng”[5].
Châu bản triều Nguyễn có ghi lại việc theo dõi giáo sĩ Phạm Văn Kinh qua bản tâu của Bộ Hình ngày 25 tháng 5 năm Minh Mạng 19 (1838) như sau: Có tên Phạm Văn Kinh, người Tây Dương, tháng 5 năm Minh Mạng 13 (1832), can án về truyền đạo Gia Tô ở làng Cổ Lão, phủ Thừa Thiên bị kết án giảo giam hậu mong ơn phát làm kinh ở phủ Thừa Thiên nhưng vẫn không chừa, ngày đêm giảng đạo tà giáo, lại đày đi đồn phủ ở Ai Lao, sau lại cho trở về an trí ở huyện Cam Lộ... Bộ chúng tôi cho người lên Cam Lộ mật thám xem Phạm Văn Kinh có lén thông tin tức gì chăng. Biết rằng Phạm Văn Kinh ở trên ấy, ngày thường có nhiều người tới lui, tiền bạc ăn tiêu dư giả, vã xem bộ kiêu căng không sợ gì cả. Vừa rồi dân Quảng Trị có người theo tà đạo, không chịu bước qua hình chữ thập, vậy xin giao Phạm Văn Kinh cho tỉnh Quảng Trị tra tấn cho ra việc”[6]. Qua đó mới thấy sự cẩn trọng, khoan dung của triều đình Huế đối với các giáo sĩ nước ngoài và vấn đề cấm đạo không đơn giản như các tội phạm khác.
Năm 1834, Minh Mạng ban hành “Thập điều giáo huấn”, nhà vua chỉ ra rằng: Đạo Gia tô lại càng vô lý “Trai gái chung đụng hỗn tạp, việc làm này giống như cầm thú... Đó là làm cho bại hoại luân lý, hư hỏng giáo hóa, không thể tin được. Nếu người nào đó bị dỗ dành thì nên mau chóng bỏ đi. Phần các việc quan, hôn, tang, tế đều phải theo lễ tục nước nhà... ”[7].
Năm 1835, Phan Bá Đạt, Phó đô ngự sử Viện Đô sát tâu: Cố đạo Mã Song (Marchand) ở Gia Định đồng lõa với Lê Văn Khôi khi bị bắt khai rằng “Thầy thuốc người Tây Dương khoét mắt người sắp chết để chế thuốc”, còn “Tà giáo Tây Dương cho một trai, một gái ở chung một nhà có tường gạch ngăn cách, khi động tình dục, rập cho chúng chết bẹp, ép lấy nước xác chết, hòa làm bánh cho người theo đạo ăn khiến cho họ mê đạo không bỏ được”; rồi nghe nói “Trai gái lấy vợ, lấy chồng, đạo trưởng đem người con gái vào nhà kín với danh nghĩa giảng đạo thực ra để dâm ô…”[8]. Những chuyện này được phịa ra trong dân gian và quan Đô ngự sử Phan Bá Đạt đã khéo thêu dệt thành những mẩu chuyện ly kỳ, hấp dẫn nên dễ gây ấn tượng trong triều đình và tạo nên sự phẫn nộ trong công chúng. Việc giết đạo từ đó càng khốc liệt hơn.
Từ năm 1825 – 1838 có 4 Giám mục, 9 Linh mục ngoại quốc, 20 Linh mục người Việt và hàng trăm giáo dân bị sát hại[9].
Tháng 10 năm 1839, Minh Mạng ban hành dụ cấm đạo: Buộc tất cả những người theo đạo phải bỏ đạo trong vòng một năm, xây dựng chùa chiền vào những nơi trước đây xây dựng nhà thờ. Tất cả thần dân phải tích cực trông nom chùa chiền.
Dụ cấm đạo mới này đã gây sự căm phẫn trong giáo đồ và giới chức Thiên chúa giáo, làm chấn động xã hội. Tuy nhiên, chính phủ Pháp và triều đình Huế cũng mong muốn có sự hiểu biết cần thiết và thiện chí từ cả hai phía để có thể xích lại gần và cải thiện tốt hơn tình thế gay cấn vốn có. Năm 1840, Minh Mạng cử Phan Thanh Giản cầm đầu một phái đoàn sang Pháp để tìm hiểu tình hình với mong muốn xây dựng quan hệ ngoại giao tốt hơn. Nhưng điều mà cả hai phía không muốn đã xảy ra là khi phái đoàn của triều đình Huế đến Pháp bị các giới chức trong giáo hội thừa sai Paris phản đối kịch liệt và vận động một cuộc tẩy chay trên báo chí, làm áp lực mạnh mẽ với nhà vua nên vua Pháp buộc phải từ chối tiếp phái đoàn của triều đình Huế.
Tuy thế, số giáo dân dưới thời Minh Mạng vẫn được tiếp tục tăng, vào năm 1840, cả nước có 3 Giám mục, 2 Phó giám mục, 24 Linh mục ngoại quốc, 144 Linh mục người Việt và 420.000 giáo dân [10].
3. Triều Thiệu Trị (1841 – 1847)
Dưới thời Thiệu Trị, nhà vua vẫn duy trì chính sách cấm đạo được ban hành từ thời Minh Mạng nhưng không tỏ ra tích cực như triều vua trước. Phần lớn các giáo sĩ bị bắt đều được Thiệu Trị cho lãnh án “trảm giam hậu” (tội chết nhưng giam đợi xét), rồi cuối cùng cũng được trả tự do. Đối với các quan theo đạo nhà vua kiên trì thuyết phục tạo cho họ có cơ hội bỏ đạo đó là trường hợp quan thủ ngự Hồ Văn Dường ở tỉnh Đồng Nai đã tự nguyện bỏ đạo bằng cách bước qua cây Thánh giá nhưng vẫn chưa chịu dự lễ tế thần ở miếu Kỳ, trình nhà vua xem xét [11].
Năm 1841, các giáo sĩ Miche, Duclos, Galy, Berneux và Charries bị bắt và bị kết án tử hình nhưng Thiệu Trị không cho thi hành án. Năm 1843, tàu chiến Pháp Héroine tự tiện đến Đà Nẵng, thuyền trưởng Felix Favin Lévecque yêu cầu triều đình Huế thả các giáo sĩ trên. Thiệu Trị chấp thuận và trao các giáo sĩ cho viên thuyền trưởng nói trên; tàu Pháp rời cảng Đà Nẵng ngày 16-3-1843.
Tháng 11 năm Thiệu Trị thứ 7 (4-1-1848), Bộ Hình dâng sớ phóng thích quan phạm, trong đó có trường hợp Nguyễn Văn Thiện ở tỉnh Phú Yên: “Thiện theo dạo Gia Tô, không chịu bỏ bị ghép tội giảo giam hậu (giam đợi ngày thắt cổ) qua đến tháng 6 năm thứ 6 (1846), y được tha chết, đày ra làm lính ở Hưng Hóa, quan tỉnh nhiều lần khuyên giải, y cũng không chịu bỏ đạo. Nay gặp dịp ân xá, y được tha về quê” [12].
Chính sách mềm dẻo về cấm đạo thời Thiệu Trị đã làm cho số giáo dân được tăng thêm nhất là tại Trung và Nam Kỳ.
Năm 1844, địa phận giáo hội được chia ra như sau:
- Địa phận Huế gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên do Pellerin làm Giám mục.
- Địa phận Quy Nhơn gồm các tỉnh Trung Kỳ còn lại do Cuénot làm Giám mục.
- Địa phận Sài Gòn gồm các tỉnh Nam Kỳ còn lại do Lefèbre làm Giám mục.
Tuy nhiên, trong nhận thức Thiệu Trị vẫn cho Thiên chúa giáo luôn là nguy cơ của mất chủ quyền và đảo lộn phong hóa dân tộc. Nhà vua xem Thiên chúa giáo cũng là mầm gây tai họa không kém gì thuốc phiện và đều do người phương Tây mang lại. Năm 1847, nhân triều đình bàn về việc người phương Tây đến xin buôn bán và truyền giáo, nhà vua ra dụ: “ Người Tây Dương lòng vốn xảo trá, nếu bỏ cấm đạo thì Anh Cát Lợi nghe thấy cũng cầu xin bỏ cấm thuốc phiện. Nhưng địch là giống sài lang, không thể thỏa mãn được nó... Vả lại đạo Gia tô là tà giáo, cái hại rồi sẽ đến bởi chuyện ngoài biên, mở đường cho chinh chiến. Thuốc phiện là thứ thuốc mê, cái hại của nó rồi sẽ khuynh gia bại sản, hại đến tính mạng người ta. Hai việc ấy đều nghiêm cấm trong nước…”[13].
Năm 1847, Đô đốc Cécille chỉ huy hải quân Pháp đến uy hiếp, 5 chiến thuyền của triều đình ở cửa biển Đà Nẵng bị tàu Pháp tấn công. Tức giận vì bị sỉ nhục, vua Thiệu Trị ra lệnh chém các quan đã không hoàn thành nhiệm vụ giữ cảng, rồi chỉ thị cho các quan địa phương nghiêm khắc thực hiện lệnh bắt đạo trên cả nước.
4. Triều Tự Đức (1848 – 1883)
Những áp lực quân sự và ngoại giao của Pháp đã đưa đến những sóng gió dưới triều đình Tự Đức đã gây ra nhiều biến cố trong giáo hội Thiên chúa giáo ở Việt Nam.
Giai đoạn 1848 – 1862 là thời kỳ khốc liệt trong cuộc chiến Việt – Pháp không cân sức cũng là thời kỳ sát đạo gay gắt của triều đình Huế với các nhà truyền giáo và giáo dân.
Năm 1848, lúc mới lên ngôi vua, Tự Đức đã phê duyệt lệnh cấm đạo: “Phàm những đạo trưởng Tây Dương đến nước ta thì cho quân dân mọi người ai có thể bắt được nộp quan, thưởng cho 300 lạng bạc. Còn người đạo trưởng Tây Dương ấy do quan sở tại xét hỏi rõ ràng lý lịch, lập tức đem việc dâng tâu, cho đem đích thân nạn nhân ấy ném xuống biển. Còn những đạo trưởng và bọn theo đạo là người nước ta, xin do các nha lại xét việc hình hai, ba lần mới báo cho biết tội, nếu họ biết hối cải bỏ đạo bước qua cây giá chữ thập thì thả ra ngay. Người nào không chịu nhảy qua cây giá chữ thập thì người đạo trưởng cũng nên xử tử, các con chiên theo đạo hãy tạm thích vào mặt, đuổi về cho vào sổ dân. Nếu họ biết hối cải thì cũng cho đến quan để trừ bỏ thích chữ ấy đi”[14].
Giải pháp bắt bỏ đạo bằng cách bước qua cây Thánh giá đối với giáo sĩ và giáo dân trong buổi đầu của triều Tự Đức tuy không mới nhưng phương thức thực hiện mềm dẻo hơn và có tính phân biệt trong việc xét xử nhằm tạo cơ hội cho người Việt theo đạo có thể trở về quê quán làm ăn bình thường.
Năm 1851, sau vụ Hồng Bảo, con trai trưởng của vua Thiệu Trị mưu lật đổ Tự Đức không thành, do nghi ngờ liên kết với Thiên chúa giáo nên Tự Đức ban hành dụ cấm đạo gay gắt hơn: “Để làm sáng tỏ chính đạo, cần phải bắt và ném xuống sông các đạo trưởng Tây Dương hoặc là người Việt Nam, dù chúng có chà đạp hay không chà đạp lên cây Thập tự giá, phải chặt chúng ra làm hai để cho mọi người cùng biết sự nghiêm ngặt của pháp luật nước ta”[15]. Việc bắt đạo từ đó càng ráo riết và giết đạo càng khốc liệt hơn.
Năm 1857, Tự Đức ra lệnh chém quan Tam phẩm Thái bộc Tự khanh Hồ Đình Hy vì viên quan theo Thiên chúa giáo nhưng không chịu bỏ đạo lại ngấm ngầm tiếp xúc với giặc, mưu phản quốc. Vụ án này có 29 giáo dân bị bắt, trong số đó có 17 người không chịu bỏ đạo nên bị lưu đày.
Tiếp theo là sự xuất hiện một số giáo sĩ và giáo dân trong đội quân viễn chinh Pháp trong các cuộc tấn công vào Đà Nẵng, Gia Định năm 1858, 1859, 1861 làm cho triều đình Tự Đức có đủ chứng cứ về âm mưu sử dụng tôn giáo của giặc Pháp và phản bội của một số giáo dân[16] nên triều đình đã ban hành nhiều lệnh dụ cấm đạo bằng cách xử tử hình, đạp lên Thánh giá, bắt buộc bỏ đạo, thích chữ vào mặt, đi đày...
Năm 1861, Tự Đức ra sắc lệnh “Phân tháp giáo dân” nhằm phân tán, cô lập, kiểm soát và tiêu diệt mầm chống dối của giáo dân[17]. Chỉ dụ này được các cấp chính quyền chấp hành nghiêm chỉnh là một đòn chính trị, tâm lý đánh vào cân não và tình cảm của giáo dân và tổ chức của giáo hội Thiên chúa giáo; làm phá hủy các làng và các cơ sở Thiên chúa giáo, các gia đình theo Thiên chúa giáo buộc phải ly tán để tự tiêu vong, họ hàng, bà con xa lánh. Giáo dân không có cơ hội để làm lễ, sinh hoạt hội đoàn, cách ly với các giáo sĩ và các tổ chức tôn giáo; bản thân những người theo đạo thường xuyên bị giám sát, con cái bị cách ly khỏi môi trường tôn giáo và làm con tin.
Với chính sách giết đạo oan nghiệt này, ngoài các giáo sĩ phương Tây bị sát hại, trong thời gian này có đến 115 linh mục người Việt bị giết, 50 nữ tu viện bị phá hủy, 2600 nữ tu phải di tản, 100 nữ tu bị giết, khoảng 100 làng giáo dân bị san thành bình địa, 10. 000 chức sắc trong các họ đạo bị bắt giam, trong số đó hơn một nửa bị giết; 2000 xứ đạo bị triệt hạ, 300. 000 giáo dân bị phân tháp, trong số đó có 50. 000 người bị giết.
Giai đoạn 1862-1874 là thời kỳ hiệp thương, nhân nhượng của triều đình nên Thiên chúa giáo được tự do truyền giảng. Khoản 2 của hiệp ước Nhâm Tuất (1862) quy định: “Công dân hai nước Pháp và Tây Ban Nha có thể hành đạo Gia Tô trong nước Việt Nam và công dân của nước này, bất luận ai, nếu muốn theo đạo Gia Tô thì theo và không bị ngăn trở; nhưng không được cưỡng bức ai trở thành tín đồ Gia Tô nếu người ấy không muốn”[18].
Năm 1865, Tự Đức lại ra một chỉ dụ chính thức cho phép các giáo sĩ tự do truyền giáo và dân chúng được tự do theo đạo.
Tuy nhiên, sự nhượng bộ của triều đình không những đã dẫn đến bức xúc, phản đối kịch liệt của các sĩ tử dự kỳ thi Hương ở Huế, Hà Nội, Nam Định năm 1864 làm triều đình Tự Đức mất uy thế mà cũng là cớ để Pháp leo thang đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ năm 1868.
Năm 1874, Pháp ép triều đình Huế ký hiệp ước công nhận chủ quyền của Pháp ở Nam Kỳ và được tự do truyền giáo.
Theo hiệp ước Giáp Tuất (1874), người theo đạo Thiên chúa có quyền dự các kỳ thi do triều đình tổ chức và tham gia vào bộ máy nhà nước các cấp, tham dự vào các hoạt động chính trị, xã hội của đất nước như một công dân bình thường, bình đẳng như mọi công dân khác.
Giai đoạn 1874-1883 là thời kỳ Thiên chúa giáo được hoạt động hợp pháp, nhiều nhà thờ được xây dựng trên cả nước, đất đai, tài sản của giáo hội được mở rộng, giáo dân cũng gia tăng.
Hiệp ước Giáp Tuất tránh được các cuộc đổ máu từ triều đình, nhưng đây lại là thời kỳ đẫm máu do các phong trào văn thân phản đối nghị hòa của triều đình và phong trào “Bình Tây sát tả” diễn ra rất mạnh ở Trung và Bắc Kỳ, làm nhiều làng theo đạo bị tàn phá, nhiều linh mục và giáo dân bị giết, làm cho uy thế triều đình Tự Đức giảm sút nghiêm trọng, tình hình xã hội càng phức tạp hơn, tạo lợi thế cho Pháp và những tay sai nhanh chóng dùng vũ lực để chiếm đoạt đất nước ta.
Tuy không thực hiện chính sách cấm đạo nhưng việc truyền giáo dưới thời Gia Long cũng không phải thuận lợi vì tính chất ý thức hệ giữa một triều đình chọn Nho giáo làm khuôn mẫu chính trị với đội ngũ quan chức từ các nho gia được đào tạo ngày càng đông đảo lên nắm quyền trở nên bảo thủ và một bên là Thiên chúa giáo và những người truyền đạo tự nhận là tôn giáo siêu việt của loài người mang tính độc tôn cần được truyền bá hệ tư tưởng và văn minh đó trên toàn cầu. Cả hai đều muốn thu phục, cảm hóa người dân về phía mình bằng “đức tin” để có một hậu thuẫn xã hội, rộng rãi và vững chắc.
Dưới triều Minh Mạng và Thiệu Trị khi vấn đề truyền giáo trở nên cấp bách đối với các nước phương Tây và kèm theo là áp lực quân sự, tôn giáo trở thành vấn đề chính trị bức thiết và sâu sắc đối với triều đình Huế. Lệnh cấm đạo được triều đình ban hành nhưng các giáo sĩ vẫn lén lút truyền giáo. Để ngăn chặn nguy cơ về chủ quyền sẽ bị mất, tình hình xã hội sẽ hỗn loạn và vấn đề văn hóa truyền thống bị xâm hại, triều đình Huế huy động cả hệ thống chính trị và xã hội để đương đầu. Đó là một hệ thống nhà nước và pháp luật từ trung ương đến địa phương cùng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thần linh trong toàn xã hội làm công cụ để ngăn chặn và chiến đấu, đã dẫn đến nhiều vụ tàn sát đẫm máu, dã man làm những người theo đạo vốn có khoảng cách nay bị đào sâu thêm hố chia cách, một nguy cơ mới của dân tộc sắp đến gần.
Dưới triều Tự Đức lệnh cấm đạo vẫn được ban hành cùng những biến động trong cung đình và xã hội đã làm cho thế nước rã rời, suy yếu. Lấy cớ bảo vệ giáo sĩ và giáo dân bị sát hại, liên quân Pháp – Tây Ban Nha đem quân tấn công vào Đà Nẵng (1858) có một số giáo sĩ và giáo dân làm nội ứng, tình hình sát đạo trở nên phổ biến và khốc liệt hơn, nhất là sau khi triều đình cho thực hiện lệnh “phân tháp giáo dân” năm 1861. Một cuộc chiến tranh mang tính trả thù của người nắm quyền lực đối với những làng theo đạo và giáo dân không vũ khí tự vệ vô cùng dã man chưa từng thấy trong lịch sử nước ta. Triều đình Huế tưởng đó là giải pháp sáng suốt và hiệu quả nhằm tiêu diệt giáo dân và giáo xứ thì không ngờ sau đó thế nước lại rã rời hơn, Pháp cho quân đánh chiếm Gia Định buộc triều đình Huế ký hiệp ước năm 1862, chấp nhận cho các giáo sĩ được truyền giáo và quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân.
Thấy rõ truyền giáo là mục tiêu quan trọng của Pháp nên triều đình Tự Đức bãi bỏ lệnh cấm đạo, xoa dịu các giáo sĩ và giáo dân bị hại, phê phán các cuộc khởi nghĩa chống Pháp, đặc biệt là các thủ lĩnh phong trào “Bình Tây sát Tả”. Sự tỉnh ngộ của Tự Đức đúng lúc nhưng triều đình Huế từ đó bị cô lập trước sức tấn công của quân Pháp và các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân, lại bị đại bộ phận nhân dân bỏ rơi kể cả những người theo đạo và những người chống đạo. Một triều đình cô thế, không còn được hậu thuẫn của nhân dân và thiếu quyết tâm đánh giặc là nguyên nhân dẫn đến những thất bại liên tiếp cho đến năm Tự Đức qua đời (1883), quân Pháp đánh vào cửa Thuận An, buộc triều đình Huế ký hiệp ước Quý Mùi, chấp nhận sự đô hộ của thực dân Pháp đối với toàn cõi nước ta.
Chính sách cấm đạo của các vua Nguyễn là một trong những nguyên nhân để liên quân Pháp – Tây Ban Nha đánh vào Đà Nẵng (1858) và cũng là một trong những nguyên nhân đưa đến sự thất bại của triều đình Tự Đức trong cuộc chiến chống Pháp vào thế kỷ XIX.
Chính sách đối với Thiên chúa giáo có liên quan trực tiếp đến chủ quyền và vận mệnh dân tộc là một sai lầm của triều Nguyễn để cả dân tộc phải trả giá bằng máu xương và sự sĩ nhục là bài học muôn thuở để các thế hệ Việt Nam tìm cho mình một chính sách tôn giáo đúng đắn, phù hợp trong từng giai đoạn lịch sử và bối cảnh chính trị trong nước và quốc tế khác nhau.
---------------------
[1] Tây dương Gia tô bí lục, sách in năm 1812, bản dịch Ngô Đức Thọ, Nxb Khoa học xã hội, H.1981, tr 291. Sách cho biết: Giám mục Ignatio (Ynêkhu) bí mật vào truyền đạo ở các làng Quần Anh, Trà Lũ, Ninh Cường vào năm Quý Tỵ, niên hiệu Nguyên Hòa, đời vua Lê Trang Tông (1533), đến đâu cũng cho tiền, phát thuốc khiến nhiều kẻ mang ơn mà chịu nghe giảng đạo. Từ đó đạo Gia tô mới bắt đầu lan đến nước ta.
[2] Nguyễn Văn Kiệm, Sự du nhập của đạo Thiên chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, 2001, tr.198.
[3] Phan Phát Huồn, Việt Nam giáo sử, tập I, Sài Gòn, 1958, tr.191.
[4] Võ Đức Hạnh, La place du Catholicisme dans le relation en de la France le Vietnam de 1858 à 1870, Tập II, tr.282.
[5] Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XI, NXB Khoa học, Hà Nội, 1960, tr.235.
[6] Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XI, NXB Khoa học, Hà Nội, 1960, tr.136.
[7] Mục lục Châu bản triều Nguyễn, Triều Minh Mạng, bản thảo viết tay, Tập 68, tờ 152-154,
[8] Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XI, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1964, tr.136.
[9] Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XXVII, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1973, tr.247.
[10] Trong đó có Gagelin (1833), Marchand (1835), Corray (1837), Jacard (1838) De Lamothe (1840); các Giám mục Havard (1837), Borie (1838). . .
[11] So với năm 1800 số giáo dân tăng thêm 110.000 người.
[12] Mục lục Châu bản triều Nguyễn, Triều Thiệu Trị, bản thảo viết tay, Tập 49, tờ 24-25,
[13] Mục lục Châu bản triều Nguyễn, Triều Thiệu Trị, bản thảo viết tay, Tập 47, tờ 40-4.
[14] Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XXVI, Nxb Khoa học Xã hội, H.1973, tr.276.
[15] Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Tập XXVI, Nxb Khoa học Xã hội, H.1973, tr.111.
[16] Phan Phát Huồn, Sđd, tr.280.
[17] Giám mục Pellerin (địa phận Huế) tích cực vận động chính phủ Pháp đem quân đánh Việt Nam, Giám mục Lefèbre (địa phận Sài Gòn) tích cực giúp quân Pháp tấn công Gia Định. Hưởng ứng lời kêu gọi của các giáo sĩ Pháp, nhiều giáo dân đầu quân theo giặc để chống lại triều đình. Khi quân Pháp đánh Đà Nẵng nhiều giáo dân Bắc Kỳ vào Đà Nẵng đầu quân cho Pháp. Đội quân này do tướng chỉ huy Rigaule de Genouilly thành lập đóng ở bán đảo Sơn Trà, họ đã tham gia đánh đánh Đà Nẵng và sau đó vào nam đánh đồn Chí Hòa (Nguyễn Văn Kiệm, Sđd, tr.235).
[18] Dụ được ban hành vào tháng 7 năm 1861, có các khoản chính sau: Khoản 1: Tất cả các giáo dân, đàn ông và đàn bà, giàu cũng như nghèo, người già cũng như trẻ con đều phải phân tán vào các làng bên lương. Khoản 2: Tất cả các làng bên lương phải chịu trách nhiệm canh gác các giáo dân đã được tha về theo tỷ lệ cứ 5 người lương một người theo đạo. Khoản 3: Tất cả các làng giáo đều phải san bằng, phá hủy đất đai, vườn tược sẽ được chia cho các làng bên lương xung quanh, các làng này có nghĩa vụ phải nộp thuế. Khoản 4: Giáo dân đàn ông phải tách ra khỏi giáo dân đàn bà, đàn ông đưa đi một tỉnh, đàn bà đưa đến một tỉnh khác để họ không được sum họp, trẻ con sẽ giao cho các gia đình bên lương nào muốn nuôi chúng. Khoản 5: Trước khi đưa đi, tất cả giáo dân đàn ông, đàn bà, trẻ con đều phải thích chữ vào mặt: Ở má trái là hai chữ tà đạo, ở má phải là tên tổng, huyện gửi tới, để chúng không thể chạy trốn.
[19] Cao Huy Thuần, Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857-1914), NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2003, tr.132.
==================================
Nguồn: CHÍNH SÁCH CỦA TRIỀU NGUYỄN ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA GIÁO
.
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền
Thế nào là Dân chủ
Từ Độc tài đến Dân chủ
Dự thảo Hiến pháp Việt Nam 2009




e*Calendar 7.5
Testor ® 3.0
Optics Mar'06
Sudoku Plus 1.0
3D Rubik 1.8
SCChess 2.0
Couple 1.0